Top 10 Bác sĩ nổi tiếng nhất trong ngành Y học toàn cầu

05-02-2021 10 8436 0 0

Báo lỗi

Y học là một lĩnh vực khoa học ứng dụng liên quan đến nghệ thuật chữa bệnh, gồm có nhiều phương pháp chăm sóc sức khỏe nhằm duy trì, hồi phục cơ thể từ những việc phòng ngừa và chữa bệnh. cho tới nay, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng lịch sử y học hoàn toàn có thể đã ra mắt cùng với lịch sử phát sinh bệnh tật và lịch sử người thầy thuốc và phải nói tới công lao trước tiên là những bác sĩ. Trên toàn cầu đã có rất nhiều bác sĩ được công nhận là những người có đóng góp lớn lao cho ngành y học. Hãy cùng Toplist tìm hiểu về những bác sĩ nổi tiếng nhất, có đóng góp to lớn cho nền Y học toàn cầu qua bài viết dưới đây, mời bạn cùng theo dõi.

12345678910

1


Vô Vi

Bác sĩ cổ đại Hippocrates – Ông Tổ ngành Y

Hippocrates – cha đẻ của y học hiện đại và được xem là thầy thuốc vĩ đại nhất trong thời đại của ông. Ông là tác giả của “Lời thề Đạo đức Y khoa” (Lời thề Hippocrates) mà đến nay vẫn còn đó đó được sử dụng ở nhiều vương quốc Trong số đó có Việt Nam. Nó được những sinh viên Y khoa đọc và nguyện làm theo khi tốt nghiệp ra trường để hành nghề. Ông đã thực hành y khoa của tớ trên cơ sở những quan sát và những nghiên cứu cơ thể con người. Theo ông cơ thể rất cần phải nhìn nhận như một tổng thể chứ không phải là một tập hợp rời rạc của từng bộ phận. Và mỗi bệnh tật đều có nguyên nhân, bác bỏ quan niệm bệnh tật do những ý nghĩ tội lỗi, do không trung thành với chúa. Ông là người trước tiên mô tả những triệu chứng của viêm phổi, động kinh ở trẻ em. Ông tin vào quy trình lành bệnh tự nhiên trải qua nghỉ ngơi, chính sách dinh dưỡng hợp lý, không khí trong lành và sự sạch sẽ. Do đó ông nhận thấy mỗi người sẽ có những biểu lộ bệnh với mức độ không giống nhau, khả năng chống đỡ bệnh không giống nhau. Đồng thời ông là thầy thuốc trước tiên cho rằng tư tưởng, suy nghĩ, tình cảm con người xuất phát từ não, không phải từ tim như nhiều người cùng thời vẫn nghĩ.

Đến nay, phần lớn những gì được biết về phương pháp y học tới từ một bộ sưu tập hơn 60 cuốn sách y học Hippus Corpus, được coi là những tác phẩm cổ nhất về y học. Bộ sưu tập được biên soạn 100 năm sau khi ông qua đời. những sử gia tin rằng những tài liệu giúp ích cho những bác sĩ khi hành nghề y trong suốt cuộc đời sau này. những tác phẩm của Hippocrates nêu quan điểm “chính sách ăn uống lành mạnh và tập luyện thể chất là một phương thuốc hữu hiệu cho hầu hết những bệnh”. Hippocrates chỉ ra cách định vị khớp, tầm quan trọng của việc lưu giữ hồ sơ về lịch sử và cách điều trị, mối quan hệ giữa thời tiết và một số bệnh tật. những bác sĩ vào thời điểm đó chỉ quan sát người bệnh, dựa trên những gì hoàn toàn có thể nhìn thấy hoặc cảm thấy phía bên ngoài. Họ cũng làm thí nghiệm trên những loài động vật để so sánh với con người, nhưng tuyệt đối không thí nghiệm trên người đã mất.

Bác sĩ cổ đại Hippocrates - Ông Tổ ngành Y
Bác sĩ cổ đại Hippocrates – Ông Tổ ngành Y
Lời tuyên thệ Hippocrates
Lời tuyên thệ Hippocrates


2


Vô Vi

Bác sĩ Edward Jenner – Cha đẻ của vắc xin

Ngày nay cả toàn cầu phải công nhận cách phòng bệnh hữu hiệu nhất là tiêm văc xin. Thành tựu y học này đã giúp gần 8 tỷ người trên toàn cầu tránh khỏi cái chết do những đại dịch hoành hành từ thế kỷ 17 trở về trước. Tiêm chủng được áp dụng cho cả người lớn và trẻ em, hầu như ai cũng hiểu rằng chỉ việc một mũi tiêm, cơ thể chúng ta sẽ được miễn nhiễm với nhiều căn bệnh quái ác không thuốc chữa. Trong tâm khảm nhiều người nghĩ rằng Louis Pasteur là cha đẻ của văc xin vì ông quá nổi tiếng với việc tìm ra vi khuẩn cũng như sự nhiễm trùng và chế tác ra văcxin phòng bệnh dại. trong thực tiễn Pasteur không phải là cha đẻ của văcxin mà công này thuộc về một bác sĩ danh dự trong hội Hoàng gia London. Đó là Edward Jenner, người đã khẳng định kết quả của văcxin trong phòng chống bệnh cho nhân loại trước khi toàn cầu biết đến sự tồn tại của virus và vi khuẩn. Lịch sử y học toàn cầu ghi nhận Edward Jenner có công lao to lớn trong việc thiết lập ra “đế chế” văc xin giúp bảo vệ hàng tỷ người khắp hoàn cầu.

Năm 1796, châu Âu trong đại dịch đậu mùa. Lúc này không ai có khái niệm về virus. Năm 1798, khi bác sĩ Edward Jenner ra mắt kết quả thí nghiệm đặt nền móng cho việc tiêm chủng thì người thời ấy mới hình dung là có những “mầm bệnh” gây nên sự truyền nhiễm. Căn bệnh đậu mùa xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại, trở thành đại dịch từ thế kỷ thứ 6, bắt nguồn từ châu Phi, sau đó lan sang châu Âu, châu Á. Trong hai thế kỷ 17 và 18 bệnh đã cướp đi sinh mạng hàng triệu người. Đậu mùa do virus gây ra nhưng những bác sĩ sống trước thời của Louis Pasteur không hề có khái niệm về vấn đề này, họ cho rằng đây là bệnh nan y không thuốc chữa. Mãi đến 80 năm sau, Louis Pasteur mới phát hiện ra vi khuẩn. Thành công lớn nhất của Jenner là chinh phục được bệnh đậu mùa. Năm 1802, ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban quốc tế về phòng chống đậu mùa. Vị bác sĩ lần lượt được nữ hoàng Anh, Nga, hoàng đế Pháp, tổng thống Mỹ trao phần thưởng giá trị vì đã có những đóng góp to lớn cho nhân loại.

Bác sĩ Edward Jenner - Cha đẻ của vắc xin
Bác sĩ Edward Jenner – Cha đẻ của vắc xin
Bác sĩ Edward Jenner - Cha đẻ của vắc xin
Bác sĩ Edward Jenner – Cha đẻ của vắc xin

3


Vô Vi

Bác sĩ Rene Laennec – ý tưởng ra ống nghe

Rene Laennec sinh vào năm 1781, tại nước Pháp, được xếp hạng thứ 52.065 trên toàn cầu và thứ 61 trong danh sách Bác sĩ nổi tiếng. Ông đã ý tưởng ra ống nghe trong lần chăm sóc cho một bệnh nhân thừa cân mà nhịp tim không thể nghe thấy hay cảm nhận được, ông ý tưởng ra một công cụ để khuếch đại âm thanh nhịp tim đập, đó đó là chiếc ống nghe. Nhờ có ống nghe do Rene Laennec ý tưởng giúp việc chuẩn đoán,việc khám bệnh đạt kết quả cao hơn. Ống nghe bằng gỗ sử dụng cho tới nửa sau thế kỷ 19, sau đó chiếc ống nghe đã trải qua nhiều lần cải tiến và ngày càng phổ biến hơn. Ngày nay, ống nghe cao su đặc được sử dụng phổ biến, giúp bác sĩ hoàn toàn có thể nghe âm thanh trong cơ thể bệnh nhân ở tần số thấp, tần số cao.

Theo y học, ống nghe tim mạch là sự phối hợp đơn thuần của một trong những định luật vật lý cơ bản nhất, dẫn truyền và khuếch đại âm thanh. Tuy nhiên, đó lại là một trong những tác động lớn và trở thành hình tượng của nền y học hiện đại. Mục đích thuở đầu tạo ra khoảng cách giữa bác sĩ và bệnh nhân, giờ đây chiếc ống nghe trở thành công cụ đặc trưng cho bác sĩ và hữu ích trong phục vụ khám chữa bệnh nhân. Trong những tháng cuối đời, ông yêu cầu cháu trai của tớ, Mériadec, kích thích ngực của ông và mô tả những gì nghe được bằng ống nghe. Ông qua đời vì căn bệnh lao phổi, căn bệnh mà chính Laënnec đã làm sáng tỏ bằng chiếc ống nghe của tớ. Trong di chúc, Laënnec cho người cháu thừa kế toàn bộ những nghiên cứu y khoa của ông, cùng với chiếc ống nghe gỗ là di vật giá trị hơn cả.

Bác sĩ Rene Laennec - Phát minh ra ống nghe
Bác sĩ Rene Laennec – ý tưởng ra ống nghe
Bác sĩ Rene Laennec - Phát minh ra ống nghe
Bác sĩ Rene Laennec – ý tưởng ra ống nghe

4


Vô Vi

Bác sĩ Ignaz Semmelweis – Cứu tinh của những bà mẹ

Ignaz Philipp Semmelweis là thầy thuốc khoa sản người Hungary. Ông khẳng định, sốt hậu sản là do lây nhiễm. Và ông minh chứng được rằng, tỷ lệ tử vong của những bà mẹ cao là do những bác sĩ không ngâm tay mình vào dung dịch Calcium Chloride trước khi đỡ đẻ. Vào năm 1861, ông ra mắt chuyên khảo căn nguyên, khái niệm và biện pháp phòng ngừa chứng sốt hậu sản một cách cực kỳ rõ ràng. Ở Hungary người ta lập nên Bảo tàng Semmelweis. Bệnh viện Semmelweis. Tại Áo, người ta xây dựng Bệnh viện sản khoa Semmelweis và ông được ghi nhận trong nền Y học toàn cầu là người mở đường cho học thuyết về vô trùng và học thuyết về nhiễm khuẩn bệnh viện.

Vào năm 1847, ông đã khám phá rằng hoàn toàn có thể giảm tỷ lệ mắc sốt sản xuống rất nhiều bằng phương pháp tiến hành những tiêu chuẩn rửa tay tại những bệnh viện khoa sản. Sốt sản xuất hiện thường xuyên tại những bệnh viện vào giữa thế kỷ 19, và bệnh này có tỷ lệ chết 10% – 35%. Semmelweis đưa ra học thuyết về rửa tay dùng “những thuốc nước chanh được khử trùng bằng clo” năm 1847 trong chức chủ tịch của Khu khoa sản thứ nhất tại Bệnh viện Đa khoa Wien; những khu bác sĩ của bệnh viện này có tỷ lệ chết gấp ba lần của tỷ lệ tại những khu bà đỡ. Năm 1851, Semmelweis về Hungary, nước này đã chấp thuận học thuyết của ông vào năm 1857.

Bác sĩ Ignaz Semmelweis - Cứu tinh của những bà mẹ
Bác sĩ Ignaz Semmelweis – Cứu tinh của những bà mẹ
Bác sĩ Ignaz Semmelweis - Cứu tinh của những bà mẹ
Bác sĩ Ignaz Semmelweis – Cứu tinh của những bà mẹ

5


Vô Vi

Bác sĩ Louis Pasteur – Tìm ra văc xin ngừa bệnh dại

Louis Pasteur sinh ngày 27/12/1822 tại thành phố Dole thuộc miền Tây nước Pháp. Ông tốt nghiệp hạng ưu tại ĐH Besancon (Pháp). Sau đó tiếp tục theo học vật lý và hóa học tại ĐH Bách khoa Paris, rồi bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ Khoa học. Ông hoàn thành những công trình vĩ đại nhất của đời mình như tìm ra nguyên nhân gây bệnh truyền nhiễm ở súc vật như bệnh dịch tả gà, bệnh chó dại… tìm được vắc xin để chủng ngừa những bệnh bệnh dịch tả gà, bệnh than, đặc biệt là bệnh chó dại. Chỉ trong vòng một năm, với sự thành công này có hơn 2.500 người bị chó dại cắn được chủng ngừa và cứu sống. Lần trước tiên thử nghiệm văcxin dại trên người, Louis Pasteur rất lo lắng. Ông viết thư tâm sự với con trai: “Con thử tưởng tượng xem trái tim đau khổ của bố sẽ bị vò nát, cấu xé đến chừng nào nếu như phải chứng kiến một nhân mạng mất đi vì liều văc xin của bố”.

Năm 1868, Pasteur nhận bằng bác sĩ y khoa ở ĐH Bonn (Đức) và được thưởng Bắc đẩu bội tinh. Sau đó thật không may, ông bị liệt nửa người trái, nhưng con người khoa học trong ông vẫn vượng sức với sự lao động miệt mài và không ngừng sáng tạo. Nhà khoa học này đã nghiên cứu về chứng bệnh than và sự nhiễm trùng máu, ra mắt lý thuyết về mầm bệnh và việc ứng dụng chúng trong y học, về sự hoại thư và về sốt hậu sản. 59 tuổi, Luis Pasteur ra mắt những nghiên cứu về chứng bệnh sốt vàng và thành công trong việc chế tác văcxin chống bệnh than. Sau đó, ông nghiên cứu về chứng bệnh đóng dấu ở lợn và chế tác ra văcxin phòng bệnh này. Tháng 7 năm 1885 là mốc rất quan trọng trong lịch sử y học, khi ông thành công trong việc sử dụng văc xin chống bệnh dại ở người.

Bác sĩ Louis Pasteur - Tìm ra văc xin ngừa bệnh dại
Bác sĩ Louis Pasteur – Tìm ra văc xin ngừa bệnh dại
Bác sĩ Louis Pasteur - Tìm ra văc xin ngừa bệnh dại
Bác sĩ Louis Pasteur – Tìm ra văc xin ngừa bệnh dại

6


Vô Vi

Bác sĩ Joseph Lister – Cha đẻ của thuốc sát trùng

Năm 1861, Joseph Lister được bổ nhiệm làm bác sĩ phẫu thuật tại bệnh xá Hoàng gia Glasgow. Ở đây, ông nhận thấy có đến 45% – 50% bệnh nhân bị chết do nhiễm trùng vết thương. Joseph Lister dựa vào lý thuyết của Louis Pasteur cho rằng nhiễm trùng là do vi sinh vật, ông đã sử dụng Acid Carbolic (phenol) để khử trùng dụng cụ giải phẫu và làm sạch vết thương. Kết quả là tỷ lệ tử vong trong những ca phẫu thuật của ông đã giảm đáng kể nhờ thuốc sát trùng này. Nhờ đó mà vai trò của chất sát trùng trong kiềm chế bệnh lây nhiễm mới được nhận thức một cách đầy đủ. Đây là mốc lịch sử quan trọng đồng thời là một trong những nỗ lực sớm nhất để kiểm soát và khống chế nhiễm trùng ngoại khoa. Trong những năm đầu của thế kỷ XIX, phẫu thuật ngoại khoa đã có mặt phổ biến ở toàn bộ những bệnh viện lớn nhỏ trên toàn cầu. Tuy nhiên, do không mấy ai có ý thức đầy đủ về công việc phẫu thuật nên tỷ lệ nhiễm trùng sau mổ thường rất cao. Để khử trùng dụng cụ giải phẫu và làm sạch vết thương, bác sĩ phẫu thuật người Anh Joseph Lister đã tiến hành thử nghiệm bằng acid carbonic.

Đầu thế kỉ XIX, vai trò của phẫu thuật trong điều trị bệnh tật và thương tổn đã được khẳng định. Rất nhiều bệnh nhân đã qua cơn thập tử nhất sinh. Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong khi điều trị lại không giảm đi là mấy. Không ít những bệnh nhân tưởng như đã được cứu sống nhờ phẫu thuật thì sau đó lại chết dần chết mòn vì những biến chứng do phẫu thuật. Chẳng ai hiểu nguyên nhân vì sao, càng không biết phương cách nào để phòng chống tình hình bi đát này. Và sau cùng, người tìm ra lời giải là bác sĩ Joseph Lister khi tìm ra vai trò của chất sát trùng trong khống chế bệnh lây nhiễm. Đây là mốc lịch sử quan trọng ngoại khoa và cũng là một trong những nỗ lực sớm nhất để kiểm soát và khống chế nhiễm trùng ngoại khoa. Cuộc đời Lister là những đóng góp to lớn cho y học. Mặc dù ngày nay, acid carbonic đã không hề được sử dụng rộng rãi trong việc kiểm soát và khống chế nhiễm trùng ngoại khoa, song phát hiện lịch sử này đã đưa Lister trở thành một trong những nhà y học vĩ đại nhất lịch sử. Ông được coi là cha đẻ của thuốc sát trùng.

Bác sĩ Joseph Lister - Cha đẻ của thuốc sát trùng
Bác sĩ Joseph Lister – Cha đẻ của thuốc sát trùng
Bác sĩ Joseph Lister - Cha đẻ của thuốc sát trùng
Bác sĩ Joseph Lister – Cha đẻ của thuốc sát trùng

7


Vô Vi

Bác sĩ Elizabeth Blackwell – Nữ giáo sư sản khoa trước tiên

Elizabeth Blackwell sinh ra tại Bristol (Anh), sau đó gia đình bà di cư sang Hoa Kỳ ở Cincinnati, bang Ohio. Từ khi còn bé, với tấm lòng nhân hậu bà luôn mong muốn được học nhiều hơn thế về ngành Y để hiểu hơn về những bệnh thường gặp nhằm giúp đỡ mọi người xung quanh. Blackwell là người phụ nữ trước tiên được trao bằng y khoa ở Bắc Mỹ (1849) hơn thế, bà còn là người đỗ đầu lớp. Đây là việc vẫn chưa từng xảy ra trong lịch sử y khoa từ trước đến thời điểm đó. Năm 1869, Elizabeth Blackwell đã giúp tổ chức hội Y tế vương quốc (National Health Society) ở London (Anh) trong hoạt động khám và chữa bệnh miễn phí cho người nghèo cũng như xây dựng trường Y khoa giành riêng cho phụ nữ ở London (London School of Medicine for Women). Đến năm 1875, bà được bổ nhiệm làm giáo sư sản khoa trước tiên là phái nữ ở trường Y khoa Nhi đồng London.

Ngày 23/1/1849, ở tuổi 28, TS. Elizabeth Blackwell tốt nghiệp xuất sắc và trở thành người phụ nữ trước tiên ở Mỹ nhận tấm bằng y khoa, phá vỡ kỷ nguyên thống trị của đàn ông. Trong buổi lễ này, lần trước tiên trong lịch sử, TS. Elizabeth Charles Lee – hiệu trưởng nhà trường, đã công khai minh bạch chúc mừng thành tích của cô, ông đã vùng dậy và cúi chào cô nàng nghị lực, giỏi giang. TS. Kelly Thibert – Chủ tịch Hiệp hội sinh viên Y phát biểu: “Năm 1849, khi phụ nữ vẫn không tồn tại quyền bầu cử ở Mỹ thì Elizabeth Blackwell – người phụ nữ vẫn luôn kiên định với quyết tâm sắt đá để theo đuổi sự nghiệp y khoa – công việc chỉ được giành riêng cho đàn ông – thật là một điều đáng khâm phục và ngưỡng mộ”.

Bác sĩ Elizabeth Blackwell - Nữ giáo sư sản khoa đầu tiên
Bác sĩ Elizabeth Blackwell – Nữ giáo sư sản khoa trước tiên
Bác sĩ Elizabeth Blackwell - Nữ giáo sư sản khoa đầu tiên
Bác sĩ Elizabeth Blackwell – Nữ giáo sư sản khoa trước tiên

8


Vô Vi

Bác sĩ Frederick Banting – Phát hiện ra hormon Insulin

Frederick Banting là nhà vật lý và sinh lý học người Canada khám phá ra hormone tuyến tụy insulin điều trị bệnh tiểu đường. Banting sinh vào năm 1891 tại Alliston, Ontario và học tại trường ĐH Toronto. Năm 1915, ông vào quân y và trở thành người chỉ huy, sau chiến tranh toàn cầu lần thứ nhất ông thực tập y khoa ở London (Anh), Ontario (Canada). Từ năm 1921 đến năm 1922, ông làm việc tại trường ĐH Toronto trong phòng thí nghiệm của nhà sinh lý học người Scotland là John Macleod và tập sự người Canada Charler Best. Banting đã khám phá ra Insulin, năm 1923, ông được trao phần thưởng Nobel về y-sinh lý học cùng với nhà sinh lý học Macleod. Thực sự nhóm nghiên cứu đến bốn người, Banting và Best chia nhau nửa giải còn, Macleod và nhà hóa học Jame Bertramcllip (người đã giúp Macleod làm tinh khiết Insulin) cùng chia nửa giải. Năm 1923 trường ĐH xây dựng khoa nghiên cứu y khoa, Banting được bổ nhiệm làm trưởng khoa. Năm 1934 ông được hoàng gia Anh phong tước hiệp sĩ, đây là đỉnh cao sự nghiệp của ông.

Vào năm 1921, bác sĩ Frederick Banting và sinh viên y khoa Charles H. Best được ghi nhận là đã khám phá ra hormon insulin trong chất chiết xuất từ tuyến tụy của chó. Banting và Best tiêm hormone insulin vào một con chó và thấy rằng nó làm giảm lượng đường trong máu từ mức cao xuống bình thường. Sau đó, họ hoàn thiện những thí nghiệm của tớ, đến thời điểm nghiền và lọc tuyến tụy được gắn vào một con chó, cô lập một chất được gọi là “isletin”. Hai người sau đó phát triển insulin để điều trị trên cơ thể người với sự giúp đỡ của nhà hóa học người Canada James B. Collip và nhà sinh lý học người Scotland JJR Macleod. Năm 1923, ông được trao giải Nobel Y học cho sự khám phá to lớn ấy. Banting mất năm 1941 do nổ máy bay trên đường từ Canada qua Anh đang có chiến tranh, hưởng thọ 50 tuổi.

Bác sĩ Frederick Banting - Phát hiện ra hormon Insulin
Bác sĩ Frederick Banting – Phát hiện ra hormon Insulin
Bác sĩ Frederick Banting - Phát hiện ra hormon Insulin
Bác sĩ Frederick Banting – Phát hiện ra hormon Insulin

9


Vô Vi

Bác sĩ Charles Drew – Tìm ra cách tách và bảo quản huyết tương

Charles Drew – bác sĩ người Mỹ gốc Phi là người tìm ra cách tách và bảo quản huyết tương. Phát hiện này tạo nền tảng để hoàn toàn có thể xây dựng những ngân hàng máu có vai trò quan trọng trong suốt trận chiến tranh toàn cầu lần II (1939 – 1945). Chính ông đã tạo ra những ngân hàng máu trước tiên, cứu sống hàng nghìn trong trận chiến mất mát lớn nhất lịch sử đó. Vào thời điểm khi hàng triệu binh lính đang chết trên chiến trường khắp châu Âu, ý tưởng của tiến sỹ Charles R. Drew đã cứu vô số mạng sống. Drew nhận thấy rằng tách và đóng băng những bộ phận cấu thành của máu sẽ được cho phép nó được tái tạo một cách an toàn sau này. Kỹ thuật này đã dẫn đến sự phát triển của ngân hàng máu.

Drew được sinh ra vào trong ngày 3 tháng 6 năm 1904, tại Washington, DC Charles Drew xuất sắc trong những học giả và thể thao trong những nghiên cứu sau ĐH tại Amherst College ở Massachusetts. Charles Drew cũng là một sinh viên danh dự tại trường y McGill University Medical ở Montreal, nơi ông chuyên về giải phẫu sinh lý học. Charles Drew nghiên cứu huyết tương và truyền máu ở thành phố New York, nơi ông trở thành một bác sĩ khoa học y tế – người Mỹ gốc Phi trước tiên làm như vậy tại ĐH Columbia. Ở đó, ông đã phát hiện ra những khám phá liên quan đến việc bảo tồn máu. bằng phương pháp tách những tế bào máu đỏ lỏng khỏi huyết tương gần rắn và đóng băng hai cách riêng biệt, ông thấy rằng máu hoàn toàn có thể được bảo tồn và tái tạo vào một ngày sau đó.

Bác sĩ Charles Drew - Tìm ra cách tách và bảo quản huyết tương
Bác sĩ Charles Drew – Tìm ra cách tách và bảo quản huyết tương
Charles Drew - bác sĩ người Mỹ gốc Phi là người tìm ra cách tách và bảo quản huyết tương (Ảnh minh họa)
Charles Drew – bác sĩ người Mỹ gốc Phi là người tìm ra cách tách và bảo quản huyết tương (Ảnh minh họa)

10


Vô Vi

Bác sĩ Henry Gray – Đặt nền tảng cho ngành giải phẫu

tiến sỹ, Bác sĩ Henry Gray là một nhà giải phẫu học người Anh. Ông đó là tác giả của cuốn sách Gray’s Anatomy (Giải phẫu Gray) đặt nền tảng cho ngành khoa học giải phẫu. Khi mới 25 tuổi, ông được bầu là Ủy viên hội Hoàng gia đồng thời là người phụ trách giải phẫu tại bệnh viện St. George’s Hospital (Anh). Năm 1861, ông là ứng viên chính cho chức trợ lý bác sĩ phẫu thuật, nhưng thật không may ông mắc bệnh đậu mùa khi chăm sóc cho một bé trai và qua đời khi mới 34 tuổi. Grey sinh ra ở Belgravia, London năm 1827 và sống phần lớn cuộc đời ở London. Năm 1842, ông nhập học với tư cách là sinh viên tại Bệnh viện St. George, London và ông được những người biết ông mô tả là một người làm việc có phương pháp và chăm chỉ nhất, đồng thời là một người đã học giải phẫu của ông. bằng phương pháp mổ xẻ chậm rãi nhưng vô giá cho chính mình.

Khi vẫn còn đó đó là sinh viên, Henry Grey đã giành được phần thưởng ba năm một lần của ĐH Bác sĩ phẫu thuật Hoàng gia vào năm 1848 cho một bài luận có tựa đề Nguồn gốc, sự kết nối và phân bố của dây thần kinh đối với mắt người và những phần phụ của nó, được minh họa bằng việc mổ xẻ so sánh mắt ở những động vật có xương sống khác, ông đã nhận được được phần thưởng Astley Cooper trị giá ba trăm guineas cho luận văn “Về cấu trúc và việc sử dụng lá lách”. Năm 1858, Grey xuất bản ấn bản giải phẫu trước tiên, dày 750 trang và chứa 363 hình. Anh có may mắn được nhờ sự giúp đỡ của người bạn Henry Vandyke Carter, một người soạn thảo lành nghề và trước đây là người trình diễn giải phẫu tại Bệnh viện St. George. Carter tiến hành những bản vẽ mà từ đó những bản khắc được tiến hành. Sự xuất sắc của những bức tranh minh họa của Carter đã góp phần rất lớn vào thành công bước đầu của cuốn sách. Ấn bản này được dành riêng cho Sir Benjamin Collins Brodie, Bart, FRS, DCL. Grey đã liên tiếp giữ những chức vụ người biểu tình Giải phẫu , người phụ trách bảo tàng và Giảng viên Giải phẫu tại Bệnh viện St. George và năm 1861 là ứng cử viên cho chức vụ trợ lý phẫu thuật.

Bác sĩ Henry Gray - Đặt nền tảng cho ngành giải phẫu (Ảnh minh họa)
Bác sĩ Henry Gray – Đặt nền tảng cho ngành giải phẫu (Ảnh minh họa)
Bác sĩ Henry Gray - Đặt nền tảng cho ngành giải phẫu (Ảnh minh họa)
Bác sĩ Henry Gray – Đặt nền tảng cho ngành giải phẫu (Ảnh minh họa)