Top 10 vương quốc có tỉ lệ mù chữ cao nhất trên trái đất

04-02-2021 10 3502 0 0

Báo lỗi

Giáo dục là chìa khóa xây dựng nên vương quốc lớn mạnh hơn, tuy nhiên có rất nhiều vương quốc trên trái đất không biết đọc và biết viết. Điều này trở thành một thử thách đối với sự phát triển của vương quốc. Thất học là một trong những nguyên nhân gây nên những tệ nạn trong xã hội minh chứng là ở đó, những thành phần tội phạm nhiều hơn thế nữa và những vấn đề về sức khỏe thì liên tục tăng. Dưới đây là danh sách 10 vương quốc mù chữ trên trái đất

12345678910

1


Trung Vũ

Afghanistan

Cộng hòa Hồi giáo Afghanistan là Nhà nước Hồi giáo Afghanistatan. Tùy theo trường hợp nước này rất có thể bị coi là thuộc Trung và/hay Nam Á cũng như Trung Đông. Về mặt tôn giáo, ngôn ngữ, dân tộc và địa lý nước này có quan hệ với hầu hết những vương quốc láng giềng.

Afghanistan có đường biên giới dài với Pakistan ở phía nam và phía đông, Iran ở phía tây, Turkmenistan, Uzbekistan và Tajikistan ở phía bắc, và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở khu vực viễn đông bắc. Cái tên Afghanistan có nghĩa “Vùng đất của người Afghan”.

Afghanistan là nước nghèo nhất và lỗi thời nhất trên trái đất. Sản lượng thuốc phiện của Afghanistan chiếm hơn 90% trái đất. Môn thể thao vương quốc là Baba Bazi. Tôn giáo là chủ nghĩa Taliban.

Afghanistan gồm có nhiều nhóm sắc tộc, và nằm ở ngã tư đường giữa Đông và Tây. Nước này từng là một trung tâm thương mại và di cư cổ đại. Vùng này cũng đã trải qua nhiều lần bị xâm lược và chinh phục, gồm cả từ Đế quốc Ba Tư, Alexandros Đại đế, người Ả Rập Hồi giáo, những dân tộc người Turk và những người du mục Mông Cổ, Đế quốc Anh, Liên bang Xô Viết và cả Hoa Kỳ.

Ahmad Shah Durrani đã tạo lập vương quốc Afghanistan ở giữa thế kỷ XVIII với tư cách một vương quốc lớn, có thủ đô tại Kandahar. Sau đó, đa phần lãnh thổ vương quốc đã bị nhượng lại cho những vương quốc xung quanh ở đầu thế kỷ XX, sau những cuộc xung đột khu vực. Ngày 19 tháng 8 năm 1919, sau trận đánh tranh Anh-Afghan lần thứ ba, vương quốc này đã giành lại độc lập hoàn toàn từ nước anh về đối ngoại.

Afghanistan
Afghanistan


2


Trung Vũ

Albania

Albania, tên chính thức Cộng hoà Albania là một vương quốc tại Đông Nam Âu. Nước này giáp biên giới với Montenegro ở phía bắc, Serbia ở phía đông bắc, Cộng hoà Macedonia ở phía đông, và Hy Lạp ở phía nam. Nước này có bờ Biển Adriatic ở phía tây và bờ Biển Ionia ở phía tây-nam. Albania là một ứng cử viên tiềm năng trở thành thành viên trong Liên minh châu Âu và NATO.

Albania là một vương quốc tại Đông Nam Âu, có tổng diện tích 28.750 km². Bờ biển nước này dài 362 kilômét trải dài trên cả Biển Adriatic và Biển Ionian. những vùng đất thấp phía tây đối diện Biển Adriatic. 70% diện tích là đồi núi và thỉnh thoảng rất khó tiếp cận. Núi cao nhất là Korab nằm trong quận Dibra, lên tới 2.753 mét (9.032 ft).

vương quốc này có khí hậu lục địa tại những vùng có độ cao lớn với mùa đông lạnh và mùa hè nóng. Bên cạnh thành phố thủ đô Tirana, với 800.000 dân, những thành phố chính gồm Durrës, Elbasan, Shkodër, Gjirokastër, Vlorë, Korçë và Kukës. Trong ngữ pháp tiếng Albania, một từ rất có thể ở hình thức không xác định hoặc xác định, và điều này cũng như đối với tên những thành phố: cả Tiranë và Tirana, Shkodër và Shkodra đều được sử dụng.

Albania
Albania

3


Trung Vũ

Algérie

Algérie tên chính thức Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Algérie, là một nước tại Bắc Phi, và là nước lớn nhất trên lục địa Châu Phi (Sudanlớn hơn nhưng đã chia làm 2 nước Sudan và Nam Sudan). Nước này có chung biên giới với Tunisia ở phía đông bắc, Libya ở phía đông, Niger phía đông nam, Mali và Mauritanie phía tây-nam, và Maroc cũng như một vài kilômét lãnh thổ phụ thuộc, Tây Sahara, ở phía tây. Theo hiến pháp, nước này được xác định là một vương quốc Hồi giáo, Ả Rập và Amazigh (Berber). Algiers là thủ đô và là thành phố lớn nhất nước này.

tên thường gọi “Algérie” xuất phát từ tên thành phố Algiers, và chính thức từ al-jazā’ir trong tiếng Ả Rập, có tức là “hòn đảo”, để chỉ bốn hòn đảo nằm xa bờ thành phố này trước khi chúng trở thành một phần lục địa năm 1525. Nhưng có lẽ chính xác nhất từ “Algiers” xuất phát từ Ziriya Bani Mazghana (được những nhà địa lý thời trung cổ như al-Idrisi và Yaqut al-Hamawi sử dụng) để chỉ người sáng lập ra nó vua Ziri Amazigh (thành phố của Ziri Amazigh), người xây dựng thành phố Algiers thời trung cổ. Không may thay, để dấu nguồn gốc Amazigh của cái tên Algérie đi ngược lại với chính sách vương quốc Ả Rập của những chính phủ Algérie, nguồn gốc Amazigh này không được công nhận.

Algérie nằm ở Bắc Phi, Bắc giáp Địa Trung Hải, Nam giáp Niger, Mali, Mauritanie, Đông giáp Tunisia và Libya, Tây giáp Maroc. Lãnh thổ được chia thành ba vùng địa lý tự nhiên nối tiếp nhau từ Bắc đến Nam: Những đồng bằng nhỏ hẹp ven biển không liên tục, xen kẽ với vùng đồi núi Atlas Tell, thích hợp cho việc phát triển lúa mì và những loại cây cận nhiệt đới.

Phía nam dãy Atlas Tell là những cao nguyên rộng lớn rải rác những hồ mặn, một khu vực thuận lợi cho việc chăn nuôi cừu, trồng ô liu. Vùng phía nam là bộ phận của sa mạc Sahara chiếm 80% diện tích vương quốc, nơi có tiềm năng khổng lồ về dầu mỏ, khí đốt và nhiều khoáng sản giá trị khác.

Algérie
Algérie

4


Trung Vũ

Samoa

Samoa thuộc Mỹ là một lãnh thổ vẫn chưa hợp nhất của Hoa Kỳ nằm tại Nam Thái BD, ở phía đông nam của Samoa. Samoa thuộc Mỹ gồm năm đảo lớn và hai rạn san hô vòng, đảo lớn nhất và đông dân nhất là Tutuila. Samoa là bộ phận của Quần đảo Samoa, nằm ở phía tây của Quần đảo Cook, phía bắc của Tonga, và cách 300 dặm (500 km) về phía nam của Tokelau. Phía tây của Quần đảo là nhóm Wallis và Futuna.

Theo điều tra nhân khẩu năm 2010, dân số lãnh thổ là 55.519. Tổng diện tích Samoa thuộc Mỹ là 199 kilômét vuông (76,8 dặm vuông Anh), đây là lãnh thổ cực nam của Hoa Kỳ. Cá ngừ đại dương và sản phẩm cá ngừ đại dương là những mặt hàng xuất khẩu chính, và đối tác mậu dịch chủ yếu là Hoa Kỳ.

Trong Đại dịch cúm 1918, thống đốc của Samoa là John Martin Poyer cho cách ly lãnh thổ để ngăn đại dịch lan đến. Samoa thuộc Mỹ được để ý vì có tỷ lệ tòng quân cao nhất trong toàn bộ những bang và lãnh thổ của Hoa Kỳ. Người Samoa thuộc Mỹ là người song ngữ, rất có thể nói thành thạo tiếng Anh và tiếng Samoa.

Samoa
Samoa

5


Trung Vũ

Andorra

Andorra cũng dịch thành Công quốc Andorra, là một vương quốc nội lục có diện tích nhỏ tại tây-nam Âu. Andorra nằm tại phần phía đông của dãy núi Pyrénées, có biên giới với Tây Ban Nha (giáp vùng Cataluña) và Pháp (giáp vùng Occitanie). vương quốc này được xây dựng theo một hiến chương vào năm 988, chính thể thân vương quốc hiện nay được xây dựng vào năm 1278. vương quốc này do hai thân vương cùng cai trị: Giám mục của giáo xứ Urgell tại Tây Ban Nha và Tổng thống Pháp.

Andorra là vương quốc nhỏ thứ sáu tại châu Âu, diện tích 468 km² và dân số khoảng hơn 77.000. Andorra là vương quốc nhỏ thứ 16 trên trái đất về diện tích đất và nhỏ thứ 11 trái đất về dân số. Thủ đô Andorra la Vella là thủ đô cao nhất tại châu Âu, với độ cao 1.023 m trên mực nước biển. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Catalunya, song song với tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Pháp cũng được nói phổ biến.

Andorra không phải là một thành viên của Liên minh châu Âu, song Euro là tiền tệ chính thức. Andorra trở thành một thành viên Liên Hiệp Quốc vào năm 1993. Năm 2013, nhân dân Andorra có tuổi thọ dự tính cao nhất trái đất với 81 năm, theo The Lancet.

Theo truyền thuyết thì Charles Đại đế (Charlemagne) công nhận một đặc quyền cho người Andorra đền đáp việc họ chiến đấu chống người Maroc. Chúa tể của vùng Urgell trở thành người đứng đầu Andorra và sau đó vùng đất lại được dâng cho Giám mục của Urgell. Vào thế kỷ XI, một cuộc tranh chấp nảy sinh giữa Giám mục và vùng đất phía bắc Andorra.

Andorra
Andorra

6


Trung Vũ

Angola

Angola là một vương quốc ở miền nam châu Phi, nằm bên bờ Đại Tây Dương. Nước này có chung biên giới với Namibia, Cộng hòa Dân chủ Congo, và Zambia. Tỉnh Cabinda tách phía bên ngoài vương quốc của Angola có chung biên giới với Cộng hòa Congo. Là một thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha do đó, còn có tên khác là miền Tây Bồ Đào Nha. Cuộc nội chiến tại vẫn còn đó đấy tiếp diễn sau khi Angola độc lập cho tới thập niên 2000. Nước này trên danh tức là một nền dân chủ và tên trước kia của nó là Cộng hòa Angola.

Tên Angola bắt nguồn từ N’gola của nhóm ngôn ngữ Bantu, đây là tên hiệu của người cai trị vùng đất này trước khi bị cai trị bởi Bồ Đào Nha. Luandalà thủ đô và thành phố lớn nhất của Angola. Tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính thức, những tiếng trong nhóm ngôn ngữ Bantu chỉ được dùng trong những vùng hẻo lánh.

Angola là một trong những vương quốc giàu tài nguyên thiên nhiên hàng đầu châu Phi. vương quốc này có nguồn dầu mỏ, khí thiên nhiên, kim cương và nhiều loại khoáng sản khác. Mặc dù vậy, nước này vẫn thuộc nhóm kém phát triển, phần lớn dân số đang sống dưới mức nghèo khó, Angola cũng là một trong những vương quốc có tuổi thọ trung bình thấp nhất và tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao nhất trên trái đất.

Với diện tích 1.246.700 km², Angola là nước lớn thứ hai ba châu Phi (sau Niger). Nó có kích cỡ giống như Mali và gần gấp hai lần bang Texas của Hoa Kỳ. Angola có chung biên giới với Namibia ở phía nam, Zambia ở phía đông, Cộng hòa Dân chủ Congo ở phía đông bắc, và Nam Đại Tây Dương ở phía tây. Tỉnh ngoài lãnh thổ Cabinda có chung biên giới với Cộng hòa Congo ở phía bắc. Thủ đô Angola, Luanda, nằm trên bờ Đại Tây Dương ở phía tây-bắc vương quốc. Nhiệt độ trung bình vùng bờ biển của Angola là 16 °C (60 độ Fahrenheit) vào mùa đông và 21 °C (70 độ Fahrenheit) vào mùa hè.

Angola
Angola

7


Trung Vũ

Anguilla

Anguilla là một lãnh thổ hải ngoại của Anh trong vùng Caribê, một trong những đảo xa nhất về phía bắc của quần đảo Leewardtrong khu vực Antilles nhỏ. Nó gồm có đảo chính Anguilla, dài khoảng 26 km (16 dặm) và rộng 5 km (3 dặm) tại điểm rộng nhất, cùng với cùng một số đảo và cù lao nhỏ hơn nhiều không tồn tại dân định cư. Thủ phủ của đảo là The Valley. Tổng diện tích đất liền của lãnh thổ là 102 km² (39,4 dặm vuông), với dân số khoảng 15.00 (năm 2016).

Hòn đảo này chịu tác động bởi gió mậu dịch Đông Bắc nên hòn đảo nhiệt đới này tương đối thông thoáng và khô. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27°C. Tháng Bảy-Tháng Mười là khoảng thời gian nóng nhất, Tháng 11 đến Tháng hai là khoảng thời gian tuyệt vời với khí hậu ôn hòa và thông thoáng.

Lượng mưa trung bình 890 mm mỗi năm, mặc dù số liệu thay đổi từ mùa này sang mùa khác và từng năm. Hòn đảo này thường xuyên bị tác động bởi bão lớn và bão nhiệt đới bất ngờ, xảy ra trong vòng thời gian từ Tháng Bảy đến Tháng Mười Một. Hòn đảo bị hư hại trong năm 1995 từ cơn bão Luis và nặng ngập 5-20 feet từ cơn bão Lenny.

Anguilla có đất khô cằn, mỏng chiếm phần lớn nên không thích hợp cho nông nghiệp, trên đảo có vài vùng đất dựa trên những nguồn tài nguyên thiên nhiên. những ngành công nghiệp chính của nó là du lịch, xây dựng công ty quốc tế và quản lý, ngân hàng quốc tế, bảo hiểm và đánh cá.

Trước cuộc rủi ro khủng hoảng trên toàn trái đất năm 2008, nền kinh tế của Anguilla đã được mở rộng nhanh gọn, đặc biệt là ngành du lịch đã được lái xe phát triển mới quan trọng trong quan hệ đối tác với những công ty đa vương quốc. Anguilla trở thành một thiên đường VAT phổ biến, không VAT BĐS Nhà Đất, thu nhập hoặc những hình thức đánh VAT trực tiếp trên những cá nhân hoặc tổ chức.

Anguilla
Anguilla

8


Trung Vũ

Antigua và Barbuda

Antigua và Barbuda là một quốc đảo ở phía đông biển Caribe, gồm 2 đảo đúng là Antigua và Barbuda. Quốc đảo nằm giữa quần đảo Leeward, gần với Trinidad và Tobago, Montserrat và Anguilla. Antigua và Barbuda nằm ở phần nam quần đảo Windward trong quần đảo Lesser Antilles.

Antigua là đảo đá vôi. Năm 1493, Columbus trong chuyến đi lần thứ hai của tôi đến châu Mỹ đã đi đến đây và lấy tên giáo đường nổi tiếng “Santa Maria la Antigua de Serille” ở Sevilla trong nước đặt tên cho đảo, mang nghĩa “thánh Maria đức cao vọng trọng ở Sevilla”. Do tên thường gọi dài, trong những lúc sử dụng thường gọi tắt là “Antigua”, có tức là “nhiều năm” hoặc “tuổi cao”, mang ý biểu thị thánh đường Maria ở Sevilla có từ rất lâu.

Năm 1632, Antigua bị Anh chiếm. Năm 1667, trở thành thuộc địa của Anh. Tháng 2 năm 1967, tiến hành tự trị nội bộ, là thành viên trong Khối Liên hiệp Anh. Barbuda là một đảo san hô. Trên đảo có nhiều heo rừng, gà rừng, nai…, được coi là thiên đường săn bắn. Do vị thế của hai đảo nằm gần xích đạo, cách nhau chỉ 40 km, còn được gọi là “đảo chị em” trong biển Caribbean. “Antigua và Barbuda” là vương quốc độc lập thứ 32 của châu Mỹ La tinh từ ngày 1 tháng 11 năm 1981.

Antigua và Barbuda
Antigua và Barbuda

9


Trung Vũ

Argentina

Argentina là vương quốc lớn thứ hai ở Nam Mỹ theo diện tích đất, sau Brasil. vương quốc này theo thể liên bang, hình thành với 23 tỉnh và một thành phố tự trị là thủ đô Buenos Aires. Argentina có diện tích đứng thứ tám trên trái đất về diện tích đất liền và lớn nhất trong số những nước nói tiếng Tây Ban Nha, mặc dù México, Colombia và Tây Ban Nha đông dân hơn.

Địa hình Argentina gồm có diện tích từ dãy núi Andes ở phía tây đến Đại Tây Dương ở phía đông. vương quốc này giáp Paraguay và Bolivia về phía bắc, Brasil và Uruguay về phía đông bắc, và Chile về phía tây và nam. Argentine tuyên bố chủ quyền ở Châu Nam Cực nhưng lãnh phận này lấn lên khu vực tranh chấp với Chile và Vương quốc Liên hiệp Anh. Về mặt pháp lý quốc tế, Hệ thống Hiệp ước Vùng Nam Cực ký năm 1961 đã vô hiệu hóa tuyên bố chủ quyền của mọi nước. Argentina cũng tuyên bố chủ quyền trên Quần đảo Falkland (tiếng Tây Ban Nha: Islas Malvinas), Nam Georgia và Quần đảo Nam Sandwich. Những nhóm đảo này hiện do Anh quản lý theo kiểu Lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh.

Là một cường quốc bậc trung được thừa nhận, Argentina là nền kinh tế lớn thứ ba Mỹ Latinh, với cùng một xếp hạng cao về Chỉ số phát triển con người. Trong phạm vi Mỹ Latinh, Argentina có GDP danh nghĩa cao thứ năm và cao nhất về sức mua tương đương.

những nhà phân tích cho rằng nước này có “nền tảng cho sự phát triển trong tương lai do kích cỡ thị trường của nó, mức độ đầu tư trực tiếp quốc tế, và tỷ lệ trọng lượng hàng hóa xuất khẩu công nghệ cao là phần đóng góp quan trọng vào tổng mức sản xuất hàng hóa”, và nó được những nhà đầu tư phân loại là một nền kinh tế mới nổi. Argentina là một thành viên sáng lập của Liên Hiệp Quốc, Mercosur, Liên minh những vương quốc Nam Mỹ, OEI, Nhóm Ngân hàng trái đất và Tổ chức thương mại trái đất, và là một trong nhóm những nền kinh tế lớn G20.

Argentina
Argentina

10


Trung Vũ

Bénin

Bénin tên chính thức Cộng hoà Bénin, là một vương quốc Tây Phi, tên cũ là Dahomey (cho tới năm 1975) hay Dahomania. Nó có chung biên giới với Togo ở phía tây, Nigeria ở phía đông và Burkina Faso cùng Niger ở phía bắc; bờ biển ngắn ở phía nam nước này dẫn tới Eo Benin. Thủ đô của Bénin là Porto Novo, nhưng chính phủ đóng trụ sở tại Cotonou.

Trải dài giữa sông Niger ở phía bắc và Eo Benin ở phía nam, cao độ của Bénin hầu như bằng nhau trên toàn vương quốc. Đa phần dân số sống tại những đồng bằng ven biển phía nam, nơi có những thành phố lớn nhất nước, gồm Porto Novo và Cotonou. phía bắc vương quốc đa phần gồm đồng cỏ và cao nguyên bán khô cằn.

Khí hậu Bénin nóng và ẩm với lượng mưa khá nhỏ so với những nước Tây Phi khác, dù có hai mùa mưa (tháng tư, tháng 6 và tháng 9 tháng 11). Trong mùa đông gió bụi harmattan rất có thể khiến trời đêm lạnh hơn.

Thành phố lớn nhất và là thủ đô là Cotonou. Cái tên Cotonou xuất phát từ câu ku tɔ nu (tại hồ thần chết) trong tiếng Fon, là phá ở bên cạnh. Đây là một minh chứng cho niềm tin rằng những ngôi sao sáng rơi xuống tượng trưng cho những linh hồn người chết ở trái đất bên kia. Chuyện kể rằng khi Cotonou được xây dựng, ánh sáng của những làng ven hồ Ganviésuốt dọc phá chiếu ánh lung linh trên mặt nước, cho thấy những ngôi sao sáng rơi phía dưới. Ganvié là một làng chài gồm những nhà sàn ven hồ ở bờ phía tây phá.

Thị trấn Ouidah là thủ đô tín ngưỡng của vodun, được dân bản địa gọi là glexwe. Đây từng là một cảng nô lệ lớn thời Bồ Đào Nha. Thị trấn Abomey là thủ đô cũ của Vương quốc Dahomey, và những vị vua Fon luôn sống ở đó.

Tại tỉnh Atakora, những khu định cư Betamaribe bên cạnh biên giới Togolese được gọi là tata somba (nhà Somba); chúng nổi tiếng vì những pháo đài, với những ngôi nhà bên trong và những người dân ngủ trong những túp lều giữa những kho thóc trên mái.

Bénin
Bénin