Himiko
卑弥呼
Oa Nữ Vương
倭女王
Queen-Himiko-Museum-Yayoi-Culture.png

Nữ hoàng Himiko tại Bảo tàng Văn hóa Yayoi Quận Osaka
Nữ vương của Yamatai
Tại vị 189 – 248 sau Công nguyên (59 năm)
kế thừa Iyo
Thông tin chung
Hậu duệ Toyo (hay Iyo – con gái duy nhất)
Tên đầy đủ
Himiko (卑弥呼)
Tước hiệu Thân Ngụy Oa Vương (親魏倭王) – do hoàng đế nước Ngụy phong hiệu
Sinh Khoảng 170 sau Công nguyên
Yamatai, Nhật Bản
Mất 248 sau Công nguyên (khoảng 70–80 tuổi)
Nhật Bản Nhật Bản
An táng Hashihaka Kofun (箸墓古墳 Hashihaka Kofun?) (Nara, Nhật Bản)
Tôn giáo 鬼道; Kidō
220px Statue of Queen Himiko at Kanzaki Station

Tượng Nữ hoàng Himiko ở ga Kanzaki

Himiko hay Pimiko (卑弥呼 Ti Di Hô?, năm sinh không rõ, mất khoảng năm 242 đến 248 sau Công nguyên) là một nữ vương của nước Yamatai, một vùng của nước Yamato cổ đại. Bà còn được gọi là Thân Ngụy Oa Vương (親魏倭王; Shingiwaō) – do hoàng đế nước Ngụy phong hiệu. Trong những triều đại đầu ở Trung Quốc, Nhị thập tứ sử ghi lại quan hệ triều cống giữa Nữ hoàng Himiko với nhà Tào Ngụy (220-265), ghi lại rằng nhân dân thời kỳ Yayoi chọn bà làm minh chủ sau hàng thập kỷ chiến tranh giữa những vị vua của Oa quốc. Lịch sử sơ khởi Nhật Bản không nhắc đến Himiko, nhưng những nhà sử học liên hệ bà với những nhân vật thần thoại như nữ Thiên hoàng Jingū, người cũng làm nhiếp chính (khoảng 200-269) trong cùng thời gian với Himiko. những tranh luận học thuật về nhân dạng của Himiko và địa điểm lãnh địa Yamatai của bà nổ ra dữ dội từ thời Edo, với những ý kiến giữa phía Bắc đảo Kyūshū hay tỉnh Yamato, mà ngày nay là Kinki. “Cuộc tranh luận Yamatai”, như Keiji Imamura viết (1996:188), là “cuộc tranh luận lớn nhất về lịch sử cổ đại Nhật Bản.”

Himiko theo một tôn giáo cổ gọi là Quỷ đạo (鬼道; Kidō) và người ta đồn đại rằng bà dùng thứ ma thuật này để trị quốc.

xem thêm lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vị Nữ hoàng pháp sư Himiko được ghi lại trong nhiều thư tịch lịch sử cổ, vào khoảng thế kỷ 3 ở Trung Quốc, thế kỷ 8 ở Nhật Bản, và thế kỷ 12 ở Triều Tiên.

Nguồn Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

220px

Một đoạn văn bản của Nguỵ chí (khoảng năm 297)

Ghi chép lịch sử thứ nhất về Himiko được tìm thấy trong thư tịch cổ Trung Quốc. “Tam quốc chí” (三國志) (khoảng năm 297), phần “Ngụy chí” (魏志) viết về lịch sử nhà Tào Ngụy (220-265), có phần “Oa nhân truyện” (倭人傳, tiếng Nhật là Wajinden 倭人伝) với sự mô tả cổ nhất về Himiko (hay Pimiko 卑彌呼) và Yamatai.

Người Oa (倭人; Oa nhân) cư ngụ ở giữa đại dương trên một quân đảo có núi cao ở phía Đông Nam của [tỉnh] Đới Phương. Trước đây họ có hơn một trăm bộ tộc. Dưới thời Hán, [sứ thần người Oa] đến triều đình; ngày nay, ba mươi bộ tộc vẫn còn đấy đấy giao thiệp [với chúng ta] qua những đoàn sứ thần và người ghi chép. (tr. Tsunoda 1951:8)

Nguồn sơ sủ này tả lại việc Himiko lên ngôi.

tổ quốc trước đây do đàn ông cai trị. trong vòng bảy mươi đến tám mươi năm trước, liên tục có chiến tranh loạn lạc. Ngay sau đó, nhân dân đồng tình chọn một người phụ nữ lên cai trị. Tên của bà là Himiko (卑彌呼), và khi lên ngôi bà mới mười bốn tuổi. Bà luôn dành hết thời gian được chấp nhận thuật và phù thủy, dùng phép thuật mê hoặc mọi người. Mặc dù đã đi đến tuổi trưởng thành, bà vẫn không kết hôn. Bà có một người em trai trợ giúp cho bà trong việc trị quốc. Sau khi lên ngôi, rất ít người nhìn thấy bà. Bà có một ngàn người hầu nữ, nhưng chỉ có một người đàn ông. Anh ta phục vụ bà trong việc ăn uống và làm một sứ giả truyền thông điệp. Bà cư ngụ trong một cung điện có tháp và cọc chắn xung quanh, với cấm vệ luôn canh giác cẩn mật. (tr. Tsunoda 1951:13)

“Ngụy chí” cũng ghi lại việc giao tế giữa hai triều đình Ngụy và Oa. những sứ thần của Himiko lần đầu đến triều kiến Hoàng đế Tào Duệ năm 238, và ông đã gửi thư hồi đáp.

Himiko, Oa Nữ vương nhận chiếu, người giờ ta chính thức coi là người bạn của nước Ngụy. […Sứ thần của người] đã đi đến đây với cống phẩm, gồm có bốn nô lệ nam và sáu nô lệ nữ, cùng với hai mảnh vải có họa tiết, mỗi mảnh dài hai mươi thước. Người sống ở rất xa trên biển; mà vẫn gửi sứ thần cùng cống phẩm. Trẫm đánh giá rất cao lòng trung hiếu của người. Do đó, Trẫm sắc phong cho người tước hiệu “Thân Ngụy Oa Vương”, cùng ấn vàng với dải lụa tím. Những thứ sau, đã được đóng gói cẩn trọng, sẽ được gửi đến cho người qua một vị Thái thú. Trẫm hy vọng vương sẽ cai trị nhân dân trong hòa bình và gắng tận tụy và thần phục. (tr. Tsunoda 1951:14)

sau cuối, “Ngụy chí” (tr. Tsunoda 1951:15) ghi lại rằng năm 247 khi một Thái thú mới đến quận Đới Phương ở Triều Tiên, Nữ hoàng Pimiko chính thức than phiền về sự thù địch với Himikuku (hoặc Pimikuku 卑彌弓呼) Vua của Kunu (狗奴, “Cẩu Nô”). Viên Thái thú phái “Chang Chêng, Quyền Tổng trấn biên thùy” với “tuyên cáo khuyên nhủ hòa giải”, và sau đó,

Khi Himiko từ trần, một gò lớn nổi lên, đường kính đến hơn một trăm bộ. Hơn một trăm người hầu nam nữ Theo chị vào trong mộ. Sau đó, một vị vua được đưa lên ngai vàng, nhưng dân chúng không tuân lệnh ông. Ám sát và giết người tràn đến; hơn một nghìn người bị giết. Một người họ hàng của Pimiko tên là Iyo [壹與] (Nhất Dữ), một cô nàng mười ba tuổi, sau đó lên ngôi vua và trật tự được phục hồi. Cheng ra tuyên bố rằng Iyo trở thành người cai trị. (tr. Tsunoda 1951:16)

Những nhà chú giải coi chữ “Iyo” (壹與, with 壹 “Nhất”, với cùng 1 biến thể cổ hơn của 一) là bản chép sai của chữ Toyo (臺與, với chữ臺 “đài”), tương đương với việc Ngụy chí viết chữ Yamatai 邪馬臺 (Tà Mã Đài) thành Yamaichi 邪馬壹 (Tà Mã Nhất).
Nguồn sử liệu của hai triều đại Trung Quốc nữa cũng đề cập đến Himiko. trong những khi rõ ràng là cả hai đều phối hợp từ những ghi chép trong “Ngụy chí”, chúng cũng có thể có một số thay đổi, ví dụ như ghi rõ “khoảng bảy mươi đến tám mươi năm” chiến tranh của người Oa ra mắt vào khoảng 146 đến 189, dưới thời vua Hán Hoàn Đế và Hán Linh Đế. Hậu Hán thư năm 432 (後漢書) ghi rằng “Vua nước Đại Oa cư ngụ ở một nước gọi là Yamadai” (tr. Tusnoda 1951:1), chứ không phải Nữ hoàng.

Dưới triều vua Hoàn Đế (147-168) và Linh Đế (168-189), nước Oa ở trong tình trạng nhiễu loạn, chiến tranh và xung đột ở khắp nơi. Trong nhiều năm, không tồn tại người cai trị. Sau đó một phụ nữ tên là Himiko xuất hiện. Vẫn vẫn chưa xuất giá, bà dùng hết thời gian của tôi được chấp nhận thuật phù thủy, mê hoặc dân chúng. Bởi vậy, họ tôn bà lên ngai vàng. Bà có nhiều người hầu gái, nhưng ít ai thấy được bà. Chỉ có một người đàn ông phụ trách tủ quần áo, bữa ăn và làm nhiệm vụ truyền lệnh cho bà. Bà cư ngụ trong một cung điện có tháp và cọc chắn bao quyanh với sự bảo vệ của binh lính. Luật pháp và phong tục ở đây nghiêm khắc và khắt khe. (tr. Tusnoda 1951:2-3)

Tùy thư (隋書) năm 363, thay đổi đi số lượng người hầu nam của Himiko.

Dưới triều Hoàn Đế và Linh Đế, nước Oa rơi vào cảnh hỗn loạn, không tồn tại người cai trị trong một thời gian dài. Sau đó, một người phụ nữ tên là Pimiko lôi cuốn dân chúng bằng những loại hình ma thuật. tổ quốc lại được thống nhất và bà lên ngôi Nữ hoàng. Một người em trai trợ giúp cho Pimiko trị quốc. Nữ hoàng Pimiko có một ngàn người hầu nữ. Khuôn nhan của bà khó có ai nhìn thấy. Bà chỉ có hai người hầu nam. Họ phục vụ việc ăn uống và làm người trung gian truyền tin. Nữ hoàng sống trong một cung điện, có tường, cọc chắn xung quanh dưới sự bảo vệ của binh lính; kỷ luật của họ rất nghiêm khắc. (tr. Tsunoda 1951:28-29)

Nguồn Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Cả hai sử liệu cổ nhất của Nhật Bản, Kojiki năm 712 (古事記 “Cổ Sự ký”,tr. Basil Hall Chamberlain 1919) và Nihon Shoki năm 720 (日本書紀 “Nhật Bản thư kỷ”, tr. William George Aston 1924), đều không đề cập đến Nữ hoàng Himiko. Vấn đề này gây ra một cuộc tranh luận không tồn tại hồi kết, và cho dù những người soạn những bộ sử này biết tới Himiko, họ hoàn toàn có thể đã có chủ đích không viết về bà (Hideyuki 2005). Tuy nhiên, hai bộ sử này có viết về ba thầy tư tế của Hoàng tộc có nhiều nét trùng hợp với Himiko: Yamato-totohi-momoso, cô của Thiên hoàng Sujin (Thiên hoàng theo truyền thuyết thứ 10 của Nhật Bản, 97-30 TCN; Yamatohime-no-mikoto, con gái của Thiên hoàng Suinin (Thiên hoàng theo truyền thuyết thứ 11, 29 TCN-70 CN); và nữ Thiên hoàng Jingū (209-269 CE), vợ của Thiên hoàng Chūai (Thiên hoàng theo truyền thuyết thứ 14, 192-200 CE). Dù thế, những ngày tháng này không được thẩm tra về mặt lịch sử.

Một ngoại lệ đáng để ý về lịch sử sơ khỏi Nhật Bản bỏ sót mất Himiko là Nihon Shoki đã trích dẫn “Ngụy chí” 3 lần. Năm 239, “Nữ vương [女王] nước Oa” cử sứ thần đến nước Ngụy; năm 240, họ trở về “với cùng 1 sắc dụ cùng ấn và dải lụa “; vă năm 243, “Vương [王] nước Oa lại cử một vị trong thần làm sứ giả triều cống” (tr. Aston 1924:245-6). Điều này hé lộ việc người biên soạn Nihon Shoki đã cố tình bỏ qua phần đề cập đến Himiko trong “Ngụy chí”.

Yamato-totohi-momoso-himemiko (倭迹迹日百襲媛命) (Oa Tích Tích Nhật Bách Tập viện mệnh), người cô tư tế của Thiên hoàng Sujin, được cho là đã tự tử sau khi biết rằng anh xã mình là một con rắn thần lừa gạt. Kojiki không đề cập đến bà, nhưng Nihon Shoki tả lại bà là “cô của Thiên hoàng về phía họ nội, một người đàn bà đanh đá và thông minh, người hoàn toàn có thể đoán trước tương lai” (tr. Aston 1924:156). Sau hàng loạt những thảm họa của tổ quốc, Thiên hoàng “tập hợp tám mươi vạn thần linh” và hỏi về tương lai. Yamato-totohi-momoso được Ōmononushi-nushi (“Thần của toàn bộ những thần và linh hồn”) nhập vào và nói: “Tại sao Thiên hoàng lại đau buồn vì tình trạng nhiễu loạn của tổ quốc? Nếu người tôn kính thờ phụng chúng ta, thì tổ quốc tức khắc ổn định.” Thiên hoàng hỏi: “Vị thần nào đang hướng dẫn cho ta?” Câu reply là: “Ta là vị thần cư ngụ ở tổ quốc Yamato, tên ta là Oho-mono-nushi no Kami” (tr. Aston 1924:152). trong những khi việc thờ phụng vị thần (từ Núi Miwa) này “không hiệu nghiệm”, Yamato-totohi-momoso đã sau đó lấy ông ta.

Sau đó, Yamato-toto-hi-momo-so-bime no Mikoto trở thành vợ của Oho-mono-nushi no Kami. Dù thế, vi thần này vẫn chưa khi nào được thấy dưới ánh sáng ban ngày, mà chỉ vào đêm hôm. Yamato-toto-hi-momo-so-bime no Mikoto nói với anh xã mình: “Ta vẫn chưa bào giờ thấy tướng công vào ban ngày; ta không thể ngắm nhìn rõ ràng vẻ mặt oai phong của chống ta; ta cầu xin người hoàn toàn có thể hoãn lại một chút, để ta hoàn toàn có thể trông thấy vẻ uy nghi của khuôn mặt chàng. Vì thần vô thượng reply: “Điều ngươi nói hoàn toàn đúng. Sáng mai, ta sẽ vào trong nhà dọn dẹp của nhà ngươi và ở Trong số đó. Ta mong người sẽ không kinh hãi khi nhìn thấy hình dạng của ta.” Yamato-toto-hi-momo-so-bime no Mikoto tự vấn con tim mình về điều đó. Chờ cho tới khi ngày đã tàn, bà nhìn vào phòng dọn dẹp của tôi. Ở đó có một con rắn nhỏ xinh đẹp, cũng dài và dày như sợi dây buộc quân áo. Ngay sau đó, bà hoảng sợ, và thốt ra lời cảm thán. Vị thần vô thượng xấu hổ, đột ngột trở thành hình người, nói với vợ mình: “Người không biết dằn lòng mình lại, và lại làm ta xấu hổ; ta sẽ làm người phải xấu hổ.” Đạp lên khoảng không vô tận, vị thần bay đến núi Mimoro. Đến đây Yamato-toto-hi-momo-so-bime no Mikoto nhìn lên hối hận. Bà thả mình xuống ghế, một chiếc đũa đâm xuyên qua bộ phận sinh dục của bà khiến bà qua đời. Bà được chôn cất tại Oho-chi. Sau đó người cùng thời gọi ngôi mộ của bà là Hashi no haka [Mộ đũa].

Địa điểm kofun Hashihaka (箸墓 “Trợ mộ”) ở Sakurai, Nara có liên quan đến thần thoại này.

Yamatohime-no-mikoto (倭姫命) (Oa Cơ Mệnh), con gái của Thiên hoàng Suinin, được cho là người đã xây dựng Thần cung Ise cho Nữ thần mặt trời Amaterasu. Kojiki ghi lại bà là con thứ tư trong số năm người con của Suinin. “Yamato-hime uy nghiêm, (là tư tế của ngôi đền Ise)” (tr. Chamberlain 1919:227). Nihon Shoki cũng ghi lại giống như vậy về “Yamato-hime no Mikoto” (tr. Aston 1924:150) và cung ứng thêm nhiều chi tiết. Thiên hoàng giao nhiệm vụ cho Yamatohime tìm một vị trí lâu dài cho đền thờ Amaterasu, và sau khi lang thang nhiều năm, nữ thần mặt trời đã hướng dẫn cho cô xây dựng đền tại Ise “nơi thứ nhất bà (Amaterasu) giáng trần” (tr. Aston 1924:176).

Hoàng hậu Jingū (hay Jingō 神功) (Thần Công) được cho là đã làm nhiếp chính sau khi anh xã mình là Thiên hoàng Chūai qua đời (năm 200) cho tới khi con trai bà là Thiên hoàng Ōjin lên ngôi (Thiên hoàng theo truyền thuyết thứ 15, 270-310). KojikiNihon Shoki cũng có thể có ghi chép tương tự như. Thiên hoàng Chūai muốn xâm lược Kumaso, và trong những khi đang hỏi ý kiến những cận thần của tôi, Jingū truyền đến một thông điệp của thánh thần rằng con trai mình thay vào đó nên xâm lược Silla. So sánh hai đoạn sau.

Công chúng oai nghiêm Okinaga-tarashi, lúc đó, bị thần nhập … đưa ra lời hướng dẫn và khuyên bảo con trai mình: “Có một vùng đất ở phương Tây, và vùng đất đó chất đầy những kho báu làm lóa mắt người, từ vàng và bạc trở xuống. Ta giờ ban vùng đất đó cho nhà ngươi.

Vào lúc đó, một vị thần nhập vào người Nữ hoàng và hướng dẫn bà nói: “Tại sao Thiên hoàng lại phiền muộn vì việc Kumaso không đến triều yết? Đó là một vùng đất thiếu trụ cột. Có đáng phải xuất quân tiến công nó không? Có một vùng đất tốt hơn, vùng đất của báu vật, hoàn toàn có thể so sánh với sắc diện của mỹ nhân– vùng đất Mukatsu [đối diện], làm lóa mắt người. Trên vùng đất đó có vàng, bạc và tràn ngập màu sắc tươi vui. Đó gọi là vùng đất Silla có khăn trải giường từ “giấy dâu tằm”. Nếu người thờ phụng ta đúng đắn, vùng đất này sẽ chịu thần phục tự nguyện, và lưỡi gươm của ngươi sẽ không phải dính máu.

Thiên hoàng nghĩ rằng vị thần này nói dối, vì ông chỉ nhìn thấy đại dương ở phía Tây, và sau đó chết, hoàn toàn có thể ngay lập tức (Kojiki) hay sau khi xâm lược Kumaso (Nihon Shoki). Jingū được cho là đã phát hiện ra mình có mang, tự mình lên kế hoạch và tiến đánh Silla thắng lợi, hạ sinh vị Thiên hoàng tương lai, và trở về cai trị Yamato. Nihon Shoki thêm vào rằng vì Jingū muốn biết vị thần nào đã nguyền rủa Chūai, bà xây dựng một đền thờ, giải tán cơ quan tư tế”, và nghe những vị thần nói lộ ra việc của tôi khi đi từ Ise (Amaterasu) và Mukatsu (lãnh thổ Triều Tiên vẫn chưa chắc chắn tên). Mặc dù lịch sử thần thoại KojikiNihon Shoki cho rằng Jingū là Nữ hoàng thứ nhất của Nhật Bản, những nhà sử học thời kỳ Meiji loại bà ra khỏi Danh sách Thiên hoàng Nhật Bản, do đó Thiên hoàng Suiko (593-628) trở thành Nữ hoàng thứ nhất hoàn toàn có thể thẩm tra được trong lịch sử Nhật Bản.

Nguồn Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Sách sử cổ nhất của Triều Tiên, the 1145 Samguk Sagi (三國史記 “Tam Quốc sử ký”) ghi lại rằng Nữ hoàng Himiko đã cử sứ thần đến Adalla của Silla vào tháng 5 năm 172. Tính chính xác của đoàn sứ thần thế kỷ thứ 2 này là không chắc chắn, vì Samguk Sagi được viết những 10 thế kỷ sau đó.

Làm sáng tỏ Himiko[sửa | sửa mã nguồn]

những nhà nghiên cứu đã khá vất vả để dung hòa được những nguồn lịch sử về Himko của Trung Quốc và Nhật Bản. trong những khi “Ngụy chí” mô tả bà là một Nữ vương quan trọng trong thế kỷ 3 của Nhật Bản, những nhà sử học cổ Nhật Bản cố ý tránh nói về tên của Hiimiko, thậm chí khi Nihon Shoki trích dẫn “Ngụy chí” về đoàn sứ thần từ nước Wa.

tên thường gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Ba chữ Trung Quốc 卑彌呼 hoặc 卑弥呼 chép lại tên vị Nữ vương người Oa đọc là himiko hay hibiko trong tiếng Nhật hiện đại và bēimíhū hay bìmíhū trong tiếng Trung Quốc tiêu chuẩn hiện đại. Dù thế, việc phát âm đương thời rất khác với khi đọc chữ “Himiko” vào thế kỷ 3, cả người đọc không biết tiếng Wa và người Trung Quốc đã chép lại nó. trong những khi việc chuyển dịch chữ quốc tế sang tiếng Trung Quốc rất phức tạp, chọn ba chữ này làm hồi hộp người đọc, với tức là 卑 “thấp, hèn kém”, (phồn thể) 彌 hay (giản thể) 弥 “khắp, tràn đầy”, và 呼 “gọi to”.

Trong ngôn ngữ phát âm cổ Trung Quốc, chữ beimihu hiện đại (卑彌呼) đơn giản hơn cách phát âm vào cuối thế kỷ 3 của Trung Quốc cổ đại hay đầu Trung đại. So sánh với việc dựng lại cái tên 卑彌呼 vào thời cổ đại hay trung đại của Trung Quốc (Bernhard Karlgren, Li Fanggui, and William H. Baxter), “đầu trung đại” (Edwin G. Pulleyblank), và, gần nhất với lịch sử, “Hậu Hán” (Axel Schuessler).

  • pjimjiχuo (Karlgren)
  • pjiemjieχwo (Li)
  • pjiumjieXxu (Baxter)
  • pjimjiχɔ or pjiə̌mjiə̌χɔ (Pulleyblank)
  • piemiehɑ (Schuessler)

Để đơn giản hóa mà không dùng ký hiệu IPA, 2 chữ cái thứ nhất với p(j)-m(j)- phụ âm đầu initial consonants share -i(e) final vowels, and the third has a either a voiceless fricative X- or a voiced fricative h- plus a back mid vowel -u(o). Thus, “Himiko” could be hypothetically reconstructed as *P(j)i(e)m(j)i(e)hu(o).

In terms of historical Japanese phonology, himiko would regularly correspond to Old Japanese *Fimeko. However, Roy Andrew Miller says *Fimeko is a lexicographic error deriving from the Wei Zhi transcriptions.

Most perplexing of the entire list is the name of the queen of the Yeh-ma-t’ai community, Pi-mi-hu, Middle Chinese pji-mji-χuo. This has traditionally been explained and understood in nhật bản as a transcription of a supposed Old Japanese form *Fimeko, said to be an early term meaning “high born woman; princess,” and to derive from Old Japanese Fime [or Fi1me1] (also sometimes Fimë [Fi1me1]), a laudatory title for women going with Fiko [Fi1ko1] for men. Later Fime comes to mean “princess,” but this meaning is anachronistic for the earlier texts. … The difficulty concerns the supposed Old Japanese word *Fimeko. Even though such a form has found its way into a few modern Japanese dictionaries (for example even Kindaiichi’s otherwise generally reliable Jikai), it is in fact simply one of the ghost words of Japanese lexicography; when it does appear in modern lexical sources, it is a “made-up” form listed there solely on the basis of the Wei chih account of early nhật bản. There never was an Old Japanese *Fimeko; furthermore, the Middle Chinese spirant χ of the transcription suggests that the final element of the unknown original term did not correspond to Old Japanese -ko [-ko1], which is rendered elsewhere – in Fiko [Fi1ko1], for example – with Middle Chinese -k- as one would expect. The final element of this transcription, then, remains obscure, thought there is certainly a good chance that the first portion does correspond to a form related to Old Japanese Fime. Beyond that, it is at present impossible to go. (1967:22)

Hime < Old Japanese Fi1me1 (姫 “young noblewoman; princess”), explains Miller, etymologically derives from hi < Fi2 (日 “sun”) and nyo < me1 (女 “woman”).

Tsunoda (1951:5) notes “Pimiko is from an archaic Japanese title, himeko, meaning ‘princess’,” that is, hime with the female name suffix -ko (子 “child”, viz. the uncommon given name Himeko). Other Amaterasu-related etymological proposals for the Japanese name Himiko involve hi (日 “sun”) and miko (覡 or 巫女 “shamanka, shamaness; shrine maiden; priestess”); or their combination hime-miko “princess-priestess”.

220px Train of Amagi Railway stopping at Amagi Station

Toa tàu Himiko AR401 ở Ga Kiyama

220px %E9%9A%85%E7%94%B0%E5%B7%9D %E3%83%92%E3%83%9F%E3%82%B3 Water Bus panoramio

Himiko water taxi ở Vịnh Tokyo

Besides the original Queen of Wa, the name Himiko is also used in Japanese popular culture. Himiko (卑弥呼) is a train on the Amagi Railway Amagi Line and a water bus of Tokyo Cruise Ship designed by Leiji Matsumoto. The House of Himiko (Mezon do Himiko メゾン・ド・ヒミコ) is a 2005 movie starring Kō Shibasaki. The Legend of Himiko ( Himiko-Den 火魅子伝) is an anime series, manga, and computer trò chơi. Two other anime-manga characters are Himiko (ひみこ) in Kyoshiro and the Eternal Sky, and Himiko Kudo (工藤卑弥呼) in Get Backers.

Nhân dạng và xác thực[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận dạng Himiko/Pimiko của dễ hiểu trong Lịch sử Trung Quốc, nhưng phức tạp trong Lịch sử Nhật Bản. “Ngụy chí” thế kỷ thứ 3 ghi lại những chi tiết về Nữ vương Himiko và sự giao thiệp của bà với Hoàng đế Tào Duệ và Tào Phương. “Cổ sự ký” thế kỷ 8 của Nhật Bản và “Nhật Bản thư kỷ” không để ý đến Himiko, trừ khi bà đúng là nguyên mẫu của Nữ Thiên hoàng Jingū, Yamatohime-no-mikoto, hay Yamato-totohi-momoso.

không tồn tại ai trong số ba tư tế hoàng gia theo truyền thuyết của Nhật Bản tương ứng với sử ký và mô tả của Trung Quốc về Himiko. Theo “Ngụy chí”, Hiiko qua đời vào năm 248, nếu công nhận hệ thống ngày tháng mở hồ của Nhật, thì bà sẽ gần với Thiên hoàng thế kỷ 3 Jingū hơn là những người ở thế kỷ 1 TCN như Yamatohime-no-mikoto và Yamato-totohi-momoso-hime. Mặt khác, nếu đồng ý với những chỉnh sửa lại ngày tháng trước thế kỷ 4, thì Himiko gần với tên của một tư tế thời Yamato. Cả “Kojiki” và “Nihonshoki” đều không đề cập đến Himiko hay bất kể một chủ đề nổi trội nào rằng bà không kết hôn, và được nhân dân chọn làm người lãnh đạo, có một người em trai giúp đỡ việc cai trị (trừ khi điều này là nói về con trai của Jingū), hay có rất nhiều nữ tì.

William Wayne Farris (1998:15-54) đánh giá lại lịch sử tranh cãi học thuật về Himiko và lãnh địa Yamatai của bà. Nhà triết học thời Edo Arai Hakuseki và Motoori Norinaga bắt đầu cuộc tranh luận về sự việc liệu Yamatai nằm ở Kyushu hay Yamato và liệu sử liệu từ “Ngụy chí” hay “Kojiki” và “Nihon Shoki” đáng tin hơn. Nhà Nho Arai tàn thành lịch sử Trung Quốc là đáng tin hơn, và đánh đồng Himiko với Jingu và Yamatai với Yamato. Học giả kokugaku Motoori cho rằng lịch sử huyền thoại truyền thống Nhật Bản đáng tin hơn, và bác bỏ những trích dẫn trong “Ngụy chí”, coi đó chỉ là sự thêm thắt vào. Ông đưa ra giả thuyết rằng một vị vua từ Kumaso gửi sứ thần giả dạng làm quan lại của Jingu đến triều đình nhà Ngụy, do đó tưởng lầm Thiên hoàng là Himiko.. Farris (1998:16) says, “Giả thuyết tiếm quyền của Motoori (gisen setsu) có sức nặng lớn với thế kỷ sau.”

Sau cuộc Minh Trị Duy Tân năm 1868, những nhà sử học Nhật Bản tiếp thu được sự uyên bác của sử học châu Âu, đặc biệt là phương pháp dựa trên nguồn gốc của Leopold von Ranke. Naka Michiyo tin rằng Nihon Shoki không chính xác từ thế kỷ 4 trở về trước, và do đó (Farris 1998:17) “Jingū trở thành một nữ hoàng vào thế kỷ 4, triều đại của bà không thể trùng khớp với thời Himiko.” Nhà Hán học Shiratori Kurakichi đề xuất rằng những nhà biên soạn Nihon Shoki bị xúi giục liên hệ Jingu với quyền năng tôn giáo của Himiko. Naitō Torajirō cho rằng Himko là đại tư tế đền Ise Yamatohime-no-mikoto và quân đại Wa đã giành được quyền kiểm soát phía Nam bán đảo Triều Tiên.

Học giả [Higo Kazuo] khẳng định rằng Himiko thực ra là Yamato-toto-momo-so-hime-no-mikoto, cô của vị Thiên hoàng thần thoại Sujin, vì ngôi mộ được cho là của bà tại Hashihaka, Nara có đường kính lên đến hơn 100 bộ, kích thước ngôi mộ của Hiniko. Thuyết này có nhiều người theo vào thời kỳ trước chiến tranh. [Shida Fudomaru] lại nhìn thấy trong hình tượng Himiko sự thể hiện về quyền cai trị chính trị của phụ nữ ở Nhật Bản thời cổ. (Farris 1998:20)

Một số nhà sử học Nhật Bản sau này tái sắp xếp Himiko theo quan điểm lịch sử Marxist. Masaaki Ueda cho rằng “vương quốc của Himiko là một vương quốc chuyên chế với hệ thống nô lệ phổ biến” (Farris 1998:21), trong những khi Mitsusada lý tưởng hóa Yamatai như một “sự cân bằng giữa những bộ lạc nhỏ ” với công hữu và biểu lộ chính trị phổ biến. cho tới cuối thập kỷ 1960 “sự bùng nổ Yamatai” ra mắt khi rất nhiều nhà sử học, ngôn ngữ họ, và khảo cổ học xuất bản những sự đánh giá lại về Himiko và Yamatai, cuộc tranh luận còn có sự tham gia của những người theo chủ nghĩa dân tộc, nhà văn thần bí, và nhà nghiên cứu không chuyên.

Trong phân kỳ khảo cổ và sử học Nhật Bản, thời kỳ thế kỷ 2-3 của Nữ vương Himiko là giữa thời Yayoi muộn và đầu thời Kofun. Kofun (古墳 “cổ phần”) là gò mộ đặc hữu hình lỗ khóa, và “Ngụy chí” chú thích rằng “một gò lớn được dựng lên, đường kính hơn 100 bộ” về ngôi mộ của Himiko, hoàn toàn có thể là ghi chép cổ nhất về một kofun. Khai quật khảo cổ học những di chỉ thời Yayoi và Kofun, đáng để ý là di chỉ Yoshinogari, đã phát hiện một gương đồng kiểu Trung Quốc, gọi là shinju-kyo (神獣鏡 “Thần vật cảnh”). những học giả như Walter Edwards (1998, 1999) liên hệ những shinju-kyo với “100 gương đồng” mà Ngụy chí (tr. Tsunoda 1951:15) ghi lại Hoàng đế Tào Duệ đã tặng cho Nữ vương Himiko.

những ghi chép thời cổ Trung Quốc về Himiko và xã hội Yamatai của bà vẫn còn đấy đấy là một chiếc gì đó bí hiểm. Theo những cách giải thích không giống nhau, vị Nữ vương Nhật Bản này hoàn toàn có thể là dẫn chứng cho công xã nguyên thủy (Marxist), những nữ pháp sư nằm quyền thời Jōmon, Nhật Bản xâm lược Triều Tiên (Akima 1993), Triều Tiên xâm lược Nhật Bản (Namio Egami’s “thuyết kỵ sĩ”), hệ thống hoàng gia bắt đầu với hệ thống song quyền của một nữ tư tế và một triều đình của đàn ông (Mori 1979), “cách mạng phụ quyền” thay thế cho những vị nữ thần và nữ tư tế bằng những bản sao là nam (Ellwood 1990), hay một vị cố vấn pháp sư cho liên bang những tộc trưởng người Wa “với sứ thần Trung Quốc thì giống một vị nữ vương nắm quyền thống trị ” (Matsumoto 1983).

xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Akima, Toshio. 1993. “The Myth of the Goddess of the Undersea World and the Tale of Empress Jingū’s Subjugation of Silla Lưu trữ 2004-05-03 tại Wayback Machine”, Japanese Journal of Religious Studies 20.2:95-185.
  • Aston, William G, tr. 1924. Nihongi: Chronicles of nhật bản from the Earliest Times to A.D. 697. 2 vols. Charles E. Tuttle reprint 1972.
  • Chamberlain, Basil Hall, tr. 1919. The Kojiki, Records of Ancient Matters. Charles E. Tuttle reprint 2005.
  • Edwards, Walter. 1998. “Mirrors to Japanese History”, Archeology 51.3.
  • Edwards, Walter. 1999. “Mirrors on Ancient Yamato: The Kurozuka Kofun Discovery and the Question of Yamatai,” Monumenta Nipponica 54.1:75-110.
  • Ellwood, Robert S. 1990. “The Sujin Religious Revolution[links hỏng]“. Japanese Journal of Religious Studies 17.3:199-217.
  • Farris, William Wayne. 1999. “Sacred Texts and Buried Treasures: Issues in the Historical Archaeology of Ancient nhật bản,” Monumenta Nipponica 54.1:123-126.
  • Hong, Wontack. 1994. Peakche of Korea and the Origin of Yamato nhật bản. Kudara International.
  • Hori, Ichiro. 1968. Folk Religion in nhật bản: Continuity and Change. University of Chicago Press.
  • Imamura. Keiji. 1996. Prehistoric nhật bản: New Perspectives on Insular East Asia. University of Hawai’i Press.
  • Kidder, Jonathan Edward. 2007. Himiko and nhật bản’s Elusive Chiefdom of Yamatai. University of Hawai’i Press.
  • Matsumoto, Seichō. 1983. “nhật bản in the Third Century,” nhật bản Quarterly 30.4:377-382.
  • Miller, Roy Andrew. 1967. The Japanese Language. University of Chicago Press.
  • Mori, Kōichi. 1979. “The Emperor of nhật bản: A Historical Study in Religious Symbolism[links hỏng]“. Japanese Journal of Religious Studies 6.4:522-565.
  • Tsunoda Ryusaku, tr. 1951. nhật bản in the Chinese Dynastic Histories: Later Han Through Ming Dynasties. Goodrich, Carrington C., ed. South Pasadena: P. D. and Ione Perkins.

links ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nữ hoàng Himiko, Truyện anh hùng, bách khoa về thời Tam Quốc
  • Himiko, Britannica trực tuyến Encyclopedia
  • Khám phá lăng mộ thời Nara hoàn toàn có thể khuấy động tranh cãi về địa điểm triều đại Nữ hoàng Himiko, The nhật bản Times, 29 tháng 3 năm 2000
  • Nguyên thủ vương quốc Nhật Bản, Hướng dẫn toàn cầu về quyền lãnh đạo của phụ nữ
  • Kofun sớm nhất ở phía Đông Nam vùng lòng chảo Nara, Noboru Ogata
  • (tiếng Nhật) Mẫu cung điện của Himiko Lưu trữ 2008-03-19 tại Wayback Machine, Bảo tàng văn hóa Yayoi tỉnh Osaka
  • Yomiuri Shimbun: [https://web.archive.org/web/20130514045419/http://www.yomiuri.co.jp/dy/national/20080628TDY01306.htm Himikio – 90% học viên tiểu học Nhật Bản biết đến cái tên này, 2008.