Jack Grealish
Tập tin:Jack Grealish 2020.jpg

Jack Grealish chơi cho Aston Villa năm 2020
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Jack Peter Grealish[1]
Ngày sinh 10 tháng 9, 1995 (25 tuổi)[2]
Nơi sinh Birmingham, Anh
Chiều cao 5 ft 11 in (1,80 m)[3]
Vị trí Tiền vệ cánh / Tiền vệ tiến công
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay
Aston Villa
Số áo 10
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2001–2012 Aston Villa
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2012– Aston Villa 191 (29)
2013–2014 → Notts County (cho mượn) 37 (5)
Đội tuyển vương quốc
2011–2012 U-17 Cộng hòa Ireland 7 (3)
2012–2013 U-18 Cộng hòa Ireland 6 (2)
2013–2014 U-21 Cộng hòa Ireland 6 (1)
2016–2017 U-21 Anh 7 (2)
2020– Anh 7 (0)
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải vương quốc và chính xác tính đến ngày 25 tháng 5 năm 2021
‡ Số lần khoác áo đội tuyển vương quốc và số bàn thắng chính xác tính đến ngày 6 tháng 6 năm 2021

Jack Peter Grealish (sinh ngày 10 tháng 9 năm 1995) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Anh, chơi ở vị trí tiền vệ cánh hoặc tiền vệ tiến công cho câu lạc bộ Aston Villa và đội tuyển bóng đá vương quốc Anh.

Grealish gia nhập Aston Villa khi mới chỉ 6 tuổi và chính thức ra mắt đội một của câu lạc bộ này vào tháng 5 năm 2014, sau một thời gian được cho mượn tại Notts County. Anh đủ điều kiện để tranh tài cho cả đội tuyển Anh hoặc Cộng hòa Ireland, và Grealish đã từng tranh tài cho những đội trẻ của Cộng hòa Ireland trước khi quyết định tranh tài cho U-21 Anh vào tháng bốn năm 2016. Anh có lần đầu ra mắt trong màu áo U-21 Anh vào tháng 5 năm 2016, trong chiến tích vô địch Giải đấu Toulon 2016.

Đầu đời[sửa | sửa mã nguồn]

Grealish sinh ra ở Birmingham, West Midlands[4] và lớn lên ở Solihull cách đó không xa.[5] Anh theo học tại trường tiểu học Công giáo Rôma Đức Mẹ thương sót và trung học Công giáo Rôma Thánh Phêrô ở Solihull.[6]

Anh là người gốc Ireland khi ông ngoại là ở Dublin, ông nội tới từ thị trấn Gort ở Galway và bà nội anh tới từ Sneem, Kerry.[7][8][9] Chịu tác động bởi nguồn gốc Ireland nên anh đã chơi bóng đá Gaelic cho Câu lạc bộ bóng gậy cong John Mitchel của Warwickshire GAA trong độ tuổi từ 10 đến 14. Anh từng tranh tài với cựu cầu thủ của Aston Villa Ladies và Birmingham City Ladies là hậu vệ Aoife Mannion, bạn học của anh, tại bóng đá Gaelic.[10] vào trong ngày 4 tháng 8 năm 2009, Grealish đã ghi một điểm cho Warwickshire GAA tại sân vận động Croke Park trong nửa thời gian của trận tứ kết Giải vô địch bóng đá trẻ toàn Ireland 2009 giữa Dublin và Kerry.[11]

Anh có người em trai tên là Keelan nhưng đã mắc hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh vào tháng bốn năm 2000 khi mới 9 tháng tuổi.[12] Ông cố của anh là Billy Garraty cũng là một cầu thủ bóng đá từng khoác áo Aston Villa giành chức vô địch Cúp FA 1905.[13][14]

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Aston Villa[sửa | sửa mã nguồn]

Là một người hâm mộ Aston Villa, anh đã gia nhập lò đào tạo của câu lạc bộ khi mới chỉ 6 tuổi.[8][9][15] Mười năm sau, anh là cầu thủ dự bị trong trận thua 2-4 trên sân nhà trước Chelsea F.C. tại Giải ngoại hạng Anh vào trong ngày 31 tháng 3 năm 2012.[16] Grealish là thành viên của đội U-19 giành chức vô địch NextGen Series 2012-13, một giải đấu quy tụ rất nhiều câu lạc bộ trẻ khắp châu Âu.[17] Anh có bàn thắng trong trận gặp U-19 Sporting CP ở bán kết.

vào trong ngày 13 tháng 9 năm 2013, Grealish gia nhập câu lạc bộ League One Notts County theo dạng cho mượn đến ngày 13 tháng 1 năm 2014.[18] Anh có lần thứ nhất tranh tài chuyên nghiệp vào ngay ngày hôm sau, khi vào sân thay thế ở phút thứ 59 cho David Bell trong thắng lợi 3–1 trước Milton Keynes Dons.[19][20] vào trong ngày 7 tháng 12, anh đã ghi bàn thắng thứ nhất trong sự nghiệp khi đi bóng qua ba hậu vệ để ghi bàn thắng sau cuối trong thắng lợi 3-1 trước Gillingham ngay tại sân nhà Meadow Lane, và sau đó một tuần trong bàn thắng mở màn thắng lợi 4-0 trước Colchester United.[21][22] Anh sau đó được Notts County gia hạn vào trong ngày 17 tháng 11 năm 2014 cho tới cuối mùa.[23] Kết thúc thời gian tranh tài ở Notts County, Grealish ghi được 5 bàn thắng và có 7 pha kiến tạo trong 38 lần ra sân.[8]

quay về câu lạc bộ chủ quản, anh có màn ra mắt vào trong ngày 7 tháng 5 khi vào sân ở phút thứ 88 thay cho Ryan Bertrand trong trận thua 4-0 trước Manchester City ở Premier League.[24]

Vào tháng 5 năm 2014, Grealish tranh tài tại giải Thất hùng Hong Kong và kết thúc giải với tư cách là vua phá lưới với 6 bàn thắng.[25] Với việc hợp đồng sắp hết hạn vào mùa hè năm 2015, anh được câu lạc bộ đề nghị một bản hợp đồng mới có thời hạn 4 năm vào tháng 9 năm 2014.[15] Ngày 14 tháng 10, Grealish đã ký hợp đồng mới có thời hạn 4 năm với Aston Villa.[26]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 23 tháng 5 năm 2021
Câu lạc bộ Mùa giải Premier League FA Cup League Cup Khác tổng số
Hạng Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Aston Villa 2011–12 Premier League 0 0 0 0 0 0 0 0
2012–13 Premier League 0 0 0 0 0 0 0 0
2013–14 Premier League 1 0 0 0 1 0
2014–15 Premier League 17 0 6 0 1 0 24 0
2015–16 Premier League 16 1 2 0 3 0 21 1
2016–17 Championship 31 5 1 0 1 0 33 5
2017–18 Championship 27 3 1 0 0 0 3 0 31 3
2018–19 Championship 31 6 0 0 1 0 3 0 35 6
2019–20 Premier League 36 8 0 0 5 2 41 10
2020–21 Premier League 26 6 0 0 1 1 27 7
tổng số 191 29 10 0 12 3 6 0 212 32
Notts County (mượn) 2013–14 League One 37 5 1 0 1 0 39 5
tổng số sự nghiệp 221 34 11 0 12 3 7 0 251 37

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 6 tháng 6 năm 2021[27]
Đội tuyển vương quốc Năm Trận Bàn
Anh 2020 4 0
2021 3 0
tổng số 7 0

tìm hiểu thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^

    “Grealish: Jack Peter Grealish: Player”. BDFutbol. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2018.

  2. ^ “J. Grealish: Summary”. Soccerway. Perform Group. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018.
  3. ^ “Jack Grealish: Biography”. Aston Villa F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2014.
  4. ^ “Jack Grealish”. Barry Hugman’s Footballers. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018.
  5. ^ Percy, John; Wilson, Jeremy; Edwards, Luke (ngày 20 tháng bốn năm 2015). “Aston Villa’s Jack Grealish could spark international tug-of-war between Ireland and England”. The Daily Telegraph. London. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018.
  6. ^ Evans, Gregg (ngày 20 tháng 11 năm 2014). “Aston Villa: Playing with Callum Reilly made me competitive, says Jack Grealish”. Birmingham Mail. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018.
  7. ^ Fallon, John (ngày 17 tháng 10 năm 2014). “Jack Grealish poised to commit to Ireland senior squad”. The Irish Times. Dublin. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018.
  8. ^ a ă â Glendenning, Barry (ngày 12 tháng 9 năm 2014). “Jack Grealish turning into the real deal as he keeps his options open”. The Guardian. London. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2014.
  9. ^ a ă Rostron-Pike, Nick (ngày 21 tháng bốn năm 2015). “Exclusive – Jack Grealish faces tough decision about England future, claims father”. talkSPORT. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018.
  10. ^ Brown, Paul (ngày 13 tháng 7 năm 2012). “Mannion: Mixed Gaelic football games toughened me up”. Aston Villa F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2015.
  11. ^ Keville, Ger (ngày 21 tháng bốn năm 2015). “Five reasons why Jack Grealish will choose Ireland”. Irish Independent. Dublin. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018.
  12. ^ Kendrick, Mat (ngày 8 tháng bốn năm 2018). “The family tragedy that inspires Aston Villa’s Birmingham City derby hero Jack Grealish”. Birmingham Mail. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2019.
  13. ^ Kendrick, Mat (ngày 26 tháng 5 năm 2015). “Aston Villa v Arsenal: This 1905 FA Cup winner is related to a current Villa star – find out who”. Birmingham Mail. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018.
  14. ^ “Player info: William Garraty”. Englandstats.com. Davey Naylor. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018.
  15. ^ a ă Kendrick, Mat (ngày 9 tháng 9 năm 2014). “Exclusive: Jack Grealish offered a new four-year contract by Aston Villa”. Birmingham Mail. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018.
  16. ^ “Jack Grealish: Biography”. Aston Villa F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2014.
  17. ^ Percy, John (ngày 1 tháng bốn năm 2013). “NextGen Series Final: Chelsea U19 0 Aston Villa U19 2”. The Daily Telegraph. London. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014.
  18. ^ “Notts County sign Marcus Huber and Jack Grealish”. BBC Sport. ngày 13 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018.
  19. ^ “MK Dons 3–1 Notts County”. BBC Sport. ngày 14 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018.
  20. ^ Harrison, Dan (ngày 15 tháng 9 năm 2013). “Loan watch: Carruthers earns bragging rights over Grealish”. Aston Villa F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2013.
  21. ^ “Notts County 3–1 Gillingham”. BBC Sport. ngày 7 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018.
  22. ^ “Colchester United 0–4 Notts County”. BBC Sport. ngày 14 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018.
  23. ^ “Grealish signs new Notts loan deal”. Notts County F.C. ngày 17 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018.
  24. ^ Ornstein, David (ngày 7 tháng 5 năm 2014). “Manchester City 4–0 Aston Villa”. BBC Sport. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018.
  25. ^ Lau, Christopher (ngày 27 tháng 5 năm 2014). “Manchester City win Hong Kong Soccer Sevens”. Wild East Football. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018.
  26. ^ “Jack Grealish: Aston Villa midfielder signs new contract”. BBC Sport. ngày 14 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018.
  27. ^ “Grealish, Jack”. National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập 15 tháng Chín năm 2020.

links ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Profile at the Aston Villa F.C. web site
  • Profile at the Football Association of Ireland web site