Robin van Persie
Loco-Fener (10).jpg

Van Persie cùng Fenerbahçe vào tháng 2 năm 2016
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Robin van Persie[1]
Chiều cao 1,88 m (6 ft 2 in)[2]
Vị trí Tiền đạo
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1997–1999 Excelsior
1999–2001 Feyenoord
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2001–2004 Feyenoord 61 (15)
2004–2012 Arsenal 194 (96)
2012–2015 Manchester United 86 (48)
2015–2018 Fenerbahçe 57 (25)
2018–2019 Feyenoord 37 (21)
tổng số 435 (205)
Đội tuyển vương quốc
2000 U-17 Hà Lan 6 (0)
2001 U-19 Hà Lan 6 (0)
2002–2005 U-21 Hà Lan 12 (1)
2005–2016 Hà Lan 102 (50)
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải vương quốc

Robin van Persie (sinh ngày 6 tháng 8 năm 1983 tại Rotterdam) là cựu tiền đạo bóng đá Hà Lan. Anh lớn lên tại vùng Kralingen phía đông Rotterdam và anh đã bắt đầu sự nghiệp trong đội Excelsior với tư cách là một cầu thủ trẻ. Năm 2002 anh ký hợp đồng chuyên nghiệp với Feyenoord, nơi anh được coi là một tài năng hứa hẹn trong tương lai.

Điểm mạnh của anh là khả năng chơi bóng kỹ thuật và thông minh, chơi tốt cả hai chân. Anh còn được biết đến với khả năng đá phạt chính xác và là cầu thủ chuyên triển khai những quả phạt góc. Pha đánh đầu điệu nghệ vào lưới của tuyển Tây Ban Nha tại Fifa World Cup 2014 là một trong những pha ghi bàn đẹp nhất của anh.

Van Persie rất có thể chơi ở nhiều vị trí trên hàng tiền đạo. Anh đã từng chơi lùi và cắm ở Arsenal, ở đội tuyển Hà Lan anh rất có thể đảm nhận cả vai trò tiền đạo cánh. Hiện tại, anh đang là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển vương quốc Hà Lan với 50 bàn thắng.

Ngày 12 tháng 5 năm 2019, Robin van Persie chính thức giã từ sự nghiệp tranh tài quốc tế sau 22 năm tranh tài chuyên nghiệp.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Feyenoord[sửa | sửa mã nguồn]

Van Persie gia nhập Feyenoord từ SBV Excelsior năm 2001 và anh nhanh gọn được ra sân ở đội hình 1 của câu lạc bộ do nạn chấn thương hoành hành đã tàn phá nghiêm trọng lực lượng đội bóng, khi ấy Persie mới 17 tuổi. Cuối mùa 2001-2002, anh nhận được phần thưởng cầu thủ trẻ xuất sắc nhất mùa giải do KNVB trao tặng. Đây cũng là mùa giải thành công với Feyenoord khi họ đánh bại Borussia Dortmund trong trận chung kết cúp UEFA để đăng quang giải đấu này.

Với sự thể hiện xuất sắc ở mùa giải trước, Persie được ban lãnh đạo ký bản hợp đồng chuyên nghiệp có thời hạn ba năm rưỡi vào mùa 02-03. Persie đã làm ban lãnh đạo đội bóng không hối tiếc bằng phương pháp ghi 5 bàn cho Feyenoord trong thắng lợi 6-1 trước câu lạc bộ AGOVV ở Amstel Cup (cúp QG Hà Lan) vào trong ngày 6 tháng 1 năm 2003.[3] Đúng vào lúc đang dần trở thành thần tượng mới của đội bóng, Persie lại trở thành một ngựa chứng trong đội hình của Feyenoord, anh liên tục gây rối trong và ngoài sân cỏ đến nỗi bị huấn luyện viên Bert Van Marwijk đày xuống chơi ở đội dự bị. Dù vậy, Persie cũng ra sân 28 trận cùng với 8 bàn thắng và kết thúc mùa giải bằng vị trí thứ ba ở Eredivisie cùng câu lạc bộ. Tuy nhiên đây là một mùa giải không vui với Van Persie và Feyenoord, họ đã thua trong hai trận đấu quan trọng của mùa giải trước Real Madrid ở UEFA Super Cup 2002 và trước FC Untrect ở chung kết Amstel Cup.

Với tài năng đã được kiểm chứng Van Persie được rất nhiều đội bóng mời chào, chính vì nguyên nhân đó mà ban lãnh đạo Feyenoord đã rất khó khăn trong việc gia hạn hợp đồng với anh. Mùa giải 03-04 là một mùa giải không thành công của Van Persie khi anh không giành được một danh hiệu nào cùng đội bóng, anh cũng ra sân 28 trận như mùa giải trước nhưng chỉ ghi được 6 bàn tuy nhiên phần lớn những trận đấu, anh đều vào sân từ băng ghế dự bi. Kết thúc mùa giải, Van persie và Feyenoord đã không đạt được thoả thuận gia hạn hợp đồng. Để không bị mất trắng Persie, ban lãnh đạo Feyenoord đã phải bán anh cho câu lạc bộ tranh tài tại Premier League Arsenal với giá 2,75 triệu bảng, chỉ bằng 1 nửa so với con số 5 triệu mà họ muốn.[4]


Arsenal[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2004-2005[sửa | sửa mã nguồn]

220px Van persie henry

Van Persie và Thierry Henry

vào trong ngày 17 tháng 5 năm 2004, Van Persie đã ký hợp đồng có thời hạn 4 năm với Arsenal.[5] Anh có trận ra mắt câu lạc bộ trong thắng lợi 3-1 trước Manchester United ở FA Community Shield vào trong ngày 8/8/2004.[6]
Sau khi vào sân ở đầu hiệp hai thay choThierry Henry, Persie đã chơi khá tốt và để lại dấu ấn bằng cú lắc đầu điệu nghệ vọt xà của Tim Howard của Manchester United. Sau khi kết thúc trận đấu, huấn luyện viên Arsène Wenger của Arsenal đã nói rằng Van Persie làm ông nhớ lại Dennis Bergkamp ngày trước. Van Persie đã ghi bàn thắng thứ nhất cho Arsenal trong thắng lợi 2-1 trước một đội nhóm bóng khác của thành Manchester là Manchester City trong khuôn khổ League Cup.[7] Bàn thắng thứ nhất của Persie cho Arsenal ở giải ngoại hạng được ghi vào lưới của Southampton – một bàn thắng đã cứu Arsenal khỏi một thất bại ngay trên sân nhà Highbury. Tuy nhiên, cái tên Southampton cũng gắn liền với cùng 1 kỉ niệm buồn của Van Persie với chiếc thẻ đỏ trong trận đấu lượt về của hai đội,[8] sau sự kiện đó huấn luyện viên Wenger cũng tỏ ra không hài lòng với Van Persie và cho rằng anh quá nóng tính và cần phải cải thiện nhiều cái tính này. Bị chỉ trích, Persie rất hối hận và anh quyết tâm chuộc lỗi. Chỉ trong vòng một tuần, Persie đã ba lần chọc thủng lưới câu lạc bộ Blackburn Rovers trong thắng lợi 1-0 tại giải ngoại hạng và 3-0 ở bán kết FA Cup. Một tuần là đủ để Persie lấy lại niềm tin từ đồng đội và huấn luyện viên, sau đó anh còn ghi được thêm 2 bàn thắng nữa trong những trận đấu với West Brom và Everton. Van Persie đã hội ngộ Manchester United trong trận đấu sau cuối của mùa giải và đoạt cúp FA sau khi đánh bại đội bóng này trên chấm Penalty.[9]

Mùa giải 2005-2006[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mùa bóng thứ hai ở Arsenal, van Persie đã dần trưởng thành, anh đã tranh tài trầm tĩnh và khôn ngoan hơn. Kết quả là van Persie được nhận danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất tháng 11 của giải ngoại hạng sau khi ghi 4 bàn trong 4 trận liên tiếp và anh đã được ban lãnh đạo Arsenal gia hạn hợp đồng đến năm 2011 vào tháng 1 năm 2006. Tuy nhiên, một chấn thương trong trận đấu với Cardiff City đã khiến anh phải vật lộn với chấn thương trong phần sót lại của mùa giải, van Persie chỉ ghi được thêm một bàn thắng vào lưới Aston Villa và không thể vào sân trong trận chung kết Champions league với F.C. Barcelona (Arsenal thua 1-2). Mùa giải kết thúc, van Persie ra sân tổng số 38 trận và ghi được 11 bàn thắng trên mọi mặt trận.

Mùa giải 2006-2007[sửa | sửa mã nguồn]

220px Van Persie free kick

Van Persie triển khai quả đá phạt trong trận đấu với Everton

Van Persie đã không thể ghi được bàn thắng nào trong 6 trận đấu thứ nhất ở giải ngoại hạng và chỉ đến trận đấu với Charlton Athletic anh mới khai hoả bằng một cú đúp Trong số đó bàn thắng thứ hai được ghi bằng một cú volley ngoạn mục được HLV Arsene Wenger gọi là ” Bàn thắng đẹp nhất trong đời”. Sau đó, nó cũng đựợc BBC bầu chọn là bàn thắng đẹp nhất trong tháng 9. Kể từ đó, Van Persie trở thành người đá cặp hợp tác hợp tác ăn ý nhất với đội trưởng Thierry Henry trên hàng công. Cả hai đã cùng ghi bàn trong thắng lợi 2-1 trước Manchester United ở vòng 24 giải ngoại hạng Anh. Tuy nhiên, chấn thương nghiêm trọng ở bàn chân ngay trong trận đấu đó đã kết thúc luôn mùa giải 2006-2007 của Persie dù anh đạt phong độ rất cao lúc đó. Van Persie đã ghi 13 bàn trong 31 trận trong mùa giải đó và lần thứ nhất trở thành Vua phá lưới của Arsenal trong một mùa bóng.

Mùa giải 2007-2008[sửa | sửa mã nguồn]

220px Robin Van Persie

Van Persie trong mùa bóng 07-08

Những trận thứ nhất của giải Ngoại hạng ghi lại sự quay về của van Persie với 5 bàn sau 7 trận. Mùa bóng không tồn tại Henry của Arsenal tưởng như hoàn hảo khi họ có Persie nhưng 1 chấn thương trong màu áo đội tuyển Hà Lan đã làm anh nghỉ tranh tài đến gần hết mùa giải.Mặc dù Persie đã ra sân quay về trong những trận đấu quan trọng của Arsenal ở cuối mùa 07-08 như trận gặp Manchester United, Liverpool nhưng chấn thương đã khiến phong độ của cầu thủ này đi xuống nên anh không thể giúp Arsenal vô địch FA Premier League cũng như Champions League. Mùa bóng 07-08 vật lộn với chấn thương của Persie kết thúc với 7 bàn qua 15 trận ở FA Premier League và 2 bàn qua 7 trận ở Champions League.Tuy nhiên, mùa giải không thành công của van Persie với Arsenal đã không ngăn cản cầu thủ này tranh tài xuất sắc trong màu áo tuyển Hà Lan tham gia Euro 2008, với 2 bàn sau 1 trận ra sân chính thức và 2 trận ra sân từ ghế dự bị.Persie còn nhận giải “Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu” Hà Lan 2-0 Romania với bàn thắng vào lưới Romania bằng cú sút chân thuận cực mạnh cùng với nhiều đường chuyền thông minh cho đồng đội. Nhưng sự thành công của anh một lần nữa dừng lại khi Hà Lan thua Nga 3-1 trong trận Tứ Kết. Mùa 07-08 đã kết thúc không đến nỗi nào với Persie, nhất là khi anh chấn thương hơn nửa mùa giải.

Mùa giải 2008-2009[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù bị Juventus mời chào cuối hè 2008 sau thành công ở Euro 2008 nhưng Persie đã quyết tâm ở lại Arsenal, ít nhất cho tới năm 2011 khi hợp đồng của anh kết thúc. Loạt trận giao hữu của Arsenal mùa hè trước mùa bóng 08-09, van Persie không ghi được bàn nào và anh còn bị chấn thương nhẹ trước khi mùa bóng mới khởi tranh.
Những tưởng sự nghiệp cầu thủ của anh đã chững lại khi mới 25 tuổi thì Persie đã ghi liền 2 bàn trong thắng lợi 3-0 của Arsenal trước Newcastle United ở vòng 3 Premier League. Sau đó cầu thủ Hà Lan tiếp tục thể hiện phong độ ấn tượng bằng 1 loạt bàn thắng cho Arsenal, điển hình là 3 đường chuyền thành bàn và một bàn thắng trong trận Arsenal 4-4 Tottenham, hay 2 bàn thắng và 1 quả phạt góc trở thành bàn thắng trong trận Arsenal 4-0 Porto. Một lần nữa thì van Persie lại không thể đóng góp gì cho Arsenal trong trận họ thắng Manchester United 2-1 vì chiếc thẻ đỏ trong trận gặp Stoke City vòng đấu trước; lý do dẫn đến chiếc thẻ đỏ khá vô duyên: chỉ vì quá ức chế mà Persie phạm lỗi với thủ môn đối phương (Thomas Sorensen)- tình huống 1 lần nữa cho thấy Persie nên kiềm chế tính nóng nảy của tôi. Nhưng Persie đã chuộc lỗi bằng 2 bàn thắng giúp Arsenal thắng Chelsea 2-1 vòng 15, thắng lợi còn giúp Arsenal lấy lại hy vọng vô địch; điều này cho thấy dấu ấn đậm nét của cầu thủ này với Arsenal và ghi lại sự quay về thành công của anh mùa bóng mới.Sau đó, van Persie lại tiếp tục thể hiện đẳng cấp trong những trận của Arsenal với 3 đội sót lại của Top 4 bằng bàn thắng trong trận Arsenal 1-1 Liverpool; bàn thắng thể hiện sức mạnh, tốc độ, sự khéo léo, quyết đoán của cầu thủ này. Persie lần đầu mang băng đội trưởng Arsenal vào trong ngày 3-1-09 khi đội trưởng Fabregas bị chấn thương và anh ghi lại sự kiện này bằng 2 bàn thắng giúp Arsenal thắng Plymouth 3-1 để vượt qua vòng 3 cúp FA.[10]

Mùa giải 08/09 khép lại khá thành công với van Persie khi anh ghi tổng số 20 bàn và 13 đường kiến tạo thành bàn qua 44 trận và cho Arsenal qua toàn bộ những mặt trận, thành tích tốt nhất mà anh có được từ khi gia nhập Arsenal. Và anh cũng được bầu chọn là Cầu thủ Arsenal xuất sắc nhất mùa 08/09 qua website chính thức của CLB Arsenal.[11]

Cùng với việc hợp đồng giữa Persie và Arsenal chỉ sót lại một năm thì hai bên đã đàm phán với nhau trong suốt một thời gian dài. sau cuối, vào trong ngày 8 tháng 7, Van Persie đã ký hợp đồng tranh tài mới với Arsenal. Anh đã nói rằng ” Trái tim tôi thuộc về Arsenal và tôi không thể hình dung rằng mình sẽ mang màu áo khác. Tôi muốn nói điều đó vì tôi rất yêu mến câu lạc bộ này”.[12]

Mùa giải 2009-2010[sửa | sửa mã nguồn]

Chấn thương khiến cho van Persie không thể hiện được nhiều trong màu áo Arsenal, anh chỉ ghi được 10 bàn thắng trong tổng số 20 lần ra sân trong cả mùa 2009-2010. Anh vắng mặt trong hầu hết những trận đấu quan trọng của CLB, và Arsenal tiếp tục có một mùa giải trắng tay và sự phục vụ của van Persie cho CLB là cực kì hạn chế

Tại World Cup 2010, mặc dù đội tuyển Hà Lan của van Persie chơi rất thành công và chỉ để thua tối thiểu trước Tây Ban Nha trong trận chung kết, nhưng Robin van Persie lại là một trong những nỗi vô vọng lớn nhất.Anh ra sân thường xuyên trong cả vòng chung kết World Cup 2010 nhưng chỉ ghi vỏn vẹn một bàn thắng trong trận sau cuối của vòng bảng; bàn mở tỉ số trong trận Hà Lan 2-1 Cameroon. World Cup 2010 kết thúc khá thành công với Hà Lan nhưng lại là một nỗi vô vọng với cùng 1 trung phong lãnh trọng trách ghi bàn như van Persie, mặc dù vậy cũng không thể phủ nhận những đóng góp của anh trong lối chơi chung của Hà Lan.

Mùa giải 2010-2011[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi William Gallas chuyển đến Tottenham Hotspur vào mùa hè 2010, số áo của van Persie tại Arsenal chính thức được đổi từ 11 thành 10- số áo của Dennis Bergkamp tại Arsenal trước đây.
Nhưng mùa giải thứ nhất với áo số 10 của van Persie tại Arsenal mở đầu không được suôn sẻ, anh chi tranh tài được vài trận cho CLB vào đầu mùa giải và lại dính chấn thương. Van Persie quay về vào tháng 12/2010 với phong độ ấn tượng nhất từ trước tới giờ tại Arsenal; bắt đầu bằng pha ghi bàn từ chấm pelnaty vào lưới Partizan Belgrade tại Champions League sau đó là hàng loạt bàn thắng cho Arsenal trong những trận tiếp theo, Trong số đó có những cú đúp vào lưới West Ham United, Newcastle, Wolves hay hattrick vào lưới Wigan, bàn thắng gỡ hoà quan trọng trong trận lượt đi với Barcelona tại UEFA Champions League,với cú sút ở góc cực hẹp, hay pha volley đẹp mắt vào lưới Birmingham City trong trận chung kết League Cup,… và cũng đều có một vài điểm nhấn như việc anh bị thẻ đỏ khá vô duyên trong trận lượt về gặp Barca tại Champions League: van Persie sút bóng chỉ khoảng 1-2 giây sau khi trọng tài chính thổi còi báo việt vị nhưng vẫn phải nhận thẻ vàng thứ 2 mặc dù với anh thì sân Nou Camp quá đông khán giả hò hét và không thể nào nghe và triển khai ngay yêu cầu của trọng tài sau 1-2 giây, và chiếc thẻ đỏ đó đã gián tiếp loại Arsenal khỏi Champions League với tổng tỉ số 3-4 trước Barcelona (thắng 2-1 ở lượt đi và thua 1-3 ở lượt về)

Nửa sau mùa giải 2010-2011 kết thúc cực kì thành công cho van Persie nhưng CLB Arsenal của anh lại tiếp tục trắng tay ở mọi giải đấu họ tham gia. Thậm chí van Persie còn lập kỉ lục tại Premier League với 9 trận liên tiếp ghi bàn trên sân khách (kỉ lục cũ thuộc về Didier Drogba với 6 trận) và cân bằng kỷ lục ghi 18 bàn thắng trong một mùa giải, tính từ ngày 01 tháng Một trở đi, từng được lập bởi Thierry Henry và Cristiano Ronaldo trước đó. Premier League 2010-2011 kết thúc thành công với van Persie với danh hiệu không chính thức là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ 2 (18 bàn) chỉ sau Carlos Tevez (Man City) và Dimitar Berbatov (Man Utd) đồng 21 bàn, mặc dù anh chỉ tranh tài nửa mùa giải. Đồng thời đây cũng là mùa giải van Persie ghi bàn nhiều nhất cho Arsenal với 22 bàn thắng qua 31 lần ra sân (26 lần chính thức 7 lần dự bị)


Manchester United[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa bóng 2012-2013, Robin van Persie chuyển tới đầu quân cho Manchester United với số tiền chuyển nhượng là 24 triệu bảng. Đây được coi là một quyết định sáng suốt của Robin trong mục tiêu kiếm tìm những danh hiệu của ngôi sao sáng này. Anh ghi bàn thắng thứ nhất cho Quỷ Đỏ vào lưới Fulham. Van Persie liên tiếp lập công Trong số đó có 2 hat trick vào lưới Southampton và Aston Villa trong khuôn khổ Premier League. Trong trận gặp Aston Villa lượt về, van Persie lập hat trick giúp Man United đăng quang ngôi vô địch sớm 4 vòng đấu.

Năm 2013, Robin van Persie có được chiếc cúp Premier League lần thứ nhất trong sự nghiệp của anh cùng với Manchester United. tổng số Robin Van Persie ghi 30 bàn trên mọi đấu trường (26 bàn trong khuôn khổ Premier League) và là giành danh hiệu chiếc giày vàng năm 2012-2013. Khép lại một mùa giải ấn tượng của anh.

Mùa 2013-2014, Van Persie mở đầu mùa giải với cú đúp giúp M.U thắng Swansea 4-1. Một mùa giải không như ý của Persie khi anh liên tục gặp những chấn thương nhưng anh cũng kịp để lại dấu ấn khi lập hat-trick vào lưới Olympiakos tại vòng 16 đội Champions League để giúp Manchester United giành thắng lợi với tổng tỉ số 3-2 sau hai lượt trận.

Mùa 2014-2015, Van Persie đã ghi bàn thắng thứ nhất cho mùa giải ở mùa giải thứ tư của anh trong trận thua 5-3 trước Leicester City vào trong ngày 21 tháng 9 năm 2014. Anh ghi bàn tiếp theo trong trận đấu gặp West Ham, giúp United giành thắng lợi 2-1. Ngày 26 tháng 10 năm 2014, cuộc đối đầu đối thủ của Chelsea, Van Persie đã ghi bàn gỡ hòa muộn để mang về để tìm được một điểm cho United. Pha đánh đầu của Marouane Fellaini sau pha đá phạt của Ángel Di María đã được cứu thua bởi Thibaut Courtois, và Van Persie đã băng vào đá bồi tung lưới Chelsea với cùng 1 pha dứt điểm rất căng. Van Persie ăn mừng bàn thắng bằng phương pháp cởi áo ra và đã phải nhận thẻ vàng từ trọng tài. Pha ăn mừng bàn thắng của anh cũng được dán nhãn “stupid” bởi huấn luyện viên Louis van Gaal. Ngày 11 tháng 1 năm 2015, anh bị một chấn thương mắt cá chân trong trận thua 0-1 Southampton. Sau thất bại của Manchester United với West Bromwich Albion, Van Persie đã bỏ lỡ một quả phạt đền.

Fenerbahçe S.K[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 14 tháng 7 năm 2015, van Persie rời United để chuyển đến đầu quân cho Fenerbahçe của Thổ Nhĩ Kỳ với bản hợp đồng có thời hạn 3 năm, phí chuyển nhượng 3,84 triệu bảng.[cần dẫn nguồn]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 15 tháng 5 năm 2019.[13]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vương quốc Cúp vương quốc Cúp liên đoàn Châu Âu Khác tổng số
Giải đấu Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Feyenoord 2001–02 Eredivisie 10 0 0 0 7 0 17 0
2002–03 23 9 3 7 2 0 28 16
2003–04 28 6 2 0 3 0 33 6
tổng số 61 15 5 7 12 0 78 22
Arsenal 2004–05 Premier League 26 5 5 3 3 1 6 1 1 0 41 10
2005–06 24 5 2 0 4 4 7 2 1 0 38 11
2006–07 22 11 1 0 0 0 8 2 31 13
2007–08 15 7 0 0 1 0 7 2 23 9
2008–09 28 11 6 4 0 0 10 5 44 20
2009–10 16 9 0 0 0 0 3 1 19 10
2010–11 25 18 2 1 3 1 3 2 33 22
2011–12 38 30 2 2 0 0 8 5 48 37
tổng số 194 96 18 10 11 6 52 20 2 0 277 132
Manchester United 2012–13 Premier League 38 26 4 1 0 0 6 3 48 30
2013–14 21 12 0 0 0 0 6 4 1 2 28 18
2014–15 27 10 2 0 0 0 29 10
tổng số 86 48 4 1 0 0 12 7 1 2 105 58
Fenerbahçe 2015–16 Süper Lig 31 16 5 5 12 1 48 22
2016–17 24 9 4 4 7 1 35 14
2017–18 2 0 0 0 2 0 4 0
tổng số 57 25 9 9 0 0 21 2 87 36
Feyenoord 2017–18 Eredivisie 12 5 2 2 14 7
2018–19 25 16 4 2 1 0 1 0 31 18
tổng số 37 21 6 4 1 0 1 0 45 25
tổng số sự nghiệp 435 205 44 31 11 6 99 29 4 2 593 273

Bàn thắng cho đội tuyển vương quốc[sửa | sửa mã nguồn]

220px RVP Holland training

Van Persie trong màu áo đội tuyển Hà Lan

Trận đầu khoác áo đội tuyển vương quốc Hà Lan: 4/6/2005.
Trận cuối khoác áo đội tuyển vương quốc Hà Lan: 26/8/2016.
tranh tài 102 trận, ghi được 50 bàn

những bàn thắng cho đội tuyển vương quốc[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 8 tháng 6 năm 2005 Sân vận động Olympic Helsinki, Helsinki, Phần Lan 23px Flag of Finland.svg Phần Lan
0–4
0–4
Vòng loại World Cup 2006
2. 16 tháng 6 năm 2006 Sân vận động Gottlieb Daimler, Stuttgart, Đức 23px Flag of C%C3%B4te d%27Ivoire.svg Bờ Biển Ngà
0–1
1–2
World Cup 2006
3. 16 tháng 8 năm 2006 Sân vận động Lansdowne Road, Dublin, Ireland 23px Flag of Ireland.svg Cộng hòa Ireland
0–4
0–4
Giao hữu
4. 6 tháng 9 năm 2006 Sân vận động Philips, Eindhoven, Hà Lan 23px Flag of Belarus.svg Belarus
1–0
3–0
Vòng loại Euro 2008
5. 6 tháng 9 năm 2006 Sân vận động Philips, Eindhoven, Hà Lan 23px Flag of Belarus.svg Belarus
2–0
3–0
Vòng loại Euro 2008
6. 7 tháng 10 năm 2006 Sân vận động Vasil Levski, Sofia, Bulgaria 23px Flag of Bulgaria.svg Bulgaria
1–1
1–1
Vòng loại Euro 2008
7. 11 tháng 10 năm 2006 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 21px Flag of Albania.svg Albania
1–0
2–1
Vòng loại Euro 2008
8. 13 tháng 6 năm 2008 Stade de Suisse, Bern, Thụy Sĩ 23px Flag of France.svg Pháp
2–0
4–1
Euro 2008
9. 17 tháng 6 năm 2008 Stade de Suisse, Bern, Thụy Sĩ 23px Flag of Romania.svg România
2–0
2–0
Euro 2008
10. 20 tháng 8 năm 2008 Sân vận động Lokomotiv, Moscow, Nga 23px Flag of Russia.svg Nga
0–1
1-1
Giao hữu
11. 19 tháng 11 năm 2008 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 23px Flag of Sweden.svg Thụy Điển
1–0
3–1
Giao hữu
12. 19 tháng 11 năm 2008 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 23px Flag of Sweden.svg Thụy Điển
2–0
3–1
Giao hữu
13. 28 tháng 3 năm 2009 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 23px Flag of Scotland.svg Scotland
2–0
3–0
Vòng loại World Cup 2010
14. 5 tháng 9 năm 2009 Sân vận động Grolsch Veste, Enschede, Hà Lan 23px Flag of Japan.svg Nhật Bản
1–0
3–0
Giao hữu
15. 26 tháng 5 năm 2010 Dreisamstadion, Freiburg, Đức 23px México
1-0
2-1
Giao hữu
16. 26 tháng 5 năm 2010 Dreisamstadion, Freiburg, Đức 23px México
2-0
2-1
Giao hữu
17. 1 tháng 6 năm 2010 Sân vận động De Kuip, Rotterdam, Hà Lan 23px Flag of Ghana.svg Ghana
4-1
4-1
Giao hữu
18. 5 tháng 6 năm 2010 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 23px Flag of Hungary.svg Hungary
1-1
6-1
Giao hữu
19. 24 tháng 6 năm 2010 Sân vận động Cape Town, Cape Town, Nam Phi 23px Flag of Cameroon.svg Cameroon
1-0
2-1
World Cup 2010
20. 25 tháng 3 năm 2011 Sân vận động Ferenc Puskás, Budapest, Hungary 23px Flag of Hungary.svg Hungary
4-0
4-0
Vòng loại Euro 2012
21. 29 tháng 3 năm 2011 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 23px Flag of Hungary.svg Hungary
1-0
5-3
Vòng loại Euro 2012
22. 2 tháng 9 năm 2011 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 20px Flag of San Marino.svg San Marino
1-0
11-0
Vòng loại Euro 2012
23.
6-0
24.
7-0
25.
9-0
26. 26 tháng 5 năm 2012 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 23px Flag of Bulgaria.svg Bulgaria
1-0
1-2
Giao hữu
27. 2 tháng 6 năm 2012 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 23px Flag of Northern Ireland %281953%E2%80%931972%29.svg Bắc Ireland
1-0
6-0
Giao hữu
28.
3-0
29. 13 tháng 6 năm 2012 Sân vận động Metalist, Kharkiv, Ukraina 23px Flag of Germany.svg Đức
1-2
1-2
Euro 2012
30. 7 tháng 9 năm 2012 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 23px Flag of Turkey.svg Thổ Nhĩ Kỳ
1-0
2-0
Vòng loại World Cup 2014
31. 16 tháng 10 năm 2012 Arena Națională, Bucharest, România 23px Flag of Romania.svg România
4-1
4-1
Vòng loại World Cup 2014
32. 22 tháng 3 năm 2013 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 23px Flag of Estonia.svg Estonia
2-0
3-0
Vòng loại World Cup 2014
33. 26 tháng 3 năm 2013 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 23px Flag of Romania.svg România
2-0
4-0
Vòng loại World Cup 2014
34.
3-0
35. 11 tháng 6 năm 2013 Sân vận động Công nhân, Bắc Kinh, Trung Quốc 23px Flag of the People%27s Republic of China.svg Trung Quốc
1-0
2-0
Giao hữu
36. 6 tháng 9 năm 2013 A. Le Coq Arena, Tallinn, Estonia 23px Flag of Estonia.svg Estonia
2-2
2-2
Vòng loại World Cup 2014
37. 10 tháng 9 năm 2013 Sân vận động vương quốc Andorra, Andorra la Vella, Andorra 22px Flag of Andorra.svg Andorra
1-0
2-0
Vòng loại World Cup 2014
38.
2-0
39. 11 tháng 10 năm 2013 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 23px Flag of Hungary.svg Hungary
1-0
11-0
Vòng loại World Cup 2014
40.
4-0
41.
5-1
42. 17 tháng 5 năm 2014 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 23px Flag of Ecuador.svg Ecuador
1-1
2-2
Giao hữu
43. 31 tháng 5 năm 2014 Sân vận động Feyenoord, Rotterdam, Hà Lan 23px Flag of Ghana.svg Ghana
1-0
1-0
Giao hữu
44. 13 tháng 6 năm 2014 Arena Fonte Nova, Salvador, Brasil 23px Flag of Spain.svg Tây Ban Nha
1-1
5-1
World Cup 2014
45.
4-1
46. 15 tháng 6 năm 2014 Sân vận động Beira-Rio, Porto Alegre, Brasil 23px Flag of Australia %28converted%29.svg Úc
2-2
3-2
World Cup 2014
47. 12 tháng 7 năm 2014 Sân vận động Mané Garrincha, Brasília, Brasil 22px Flag of Brazil.svg Brasil
1-0
3-0
World Cup 2014
48. 10 tháng 10 năm 2014 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 23px Flag of Kazakhstan.svg Kazakhstan
3-1
3-1
Vòng loại Euro 2016
49. 16 tháng 11 năm 2014 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 23px Flag of Latvia.svg Latvia
1-0
6-0
Vòng loại Euro 2016
50. 13 tháng 10 năm 2015 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan 23px Flag of the Czech Republic.svg Cộng hòa Séc
2-3
2-3
Vòng loại Euro 2016

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Feyenoord[sửa | sửa mã nguồn]

  • UEFA Cup: 2001–02
  • KNVB Cup: 2017–18
  • Johan Cruyff Shield: 2018

Arsenal[sửa | sửa mã nguồn]

  • FA Community Shield: 2004–05
  • FA Cup: 2004
  • UEFA Champions League Á quân: 2005–06
  • Cúp Liên đoàn bóng đá Anh Á quân: 2010–11

Manchester United[sửa | sửa mã nguồn]

  • Premier League: 2012-13
  • FA Community Shield: 2013

Đội Tuyển vương quốc Hà Lan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Á quân FIFA World Cup 2010
  • Hạng 3 FIFA World Cup 2014

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất mùa của KNVB: 2000–01
  • Cầu thủ trẻ Hà Lan xuất sắc nhất năm: 2001–02
  • Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của FA Premier League Player: 11/2005; 10/2009; 10/2011; 12/2012; 04/2013
  • Nhân vật thể thao của Rotterdam trong năm: 2006
  • Bàn thắng trong tháng của BBC: 09/2006; 12/2008; 12/2011, 08/2012, 04/2013
  • Chiếc giày vàng Premier League: 2012
  • Chiếc giày đồng Euro 2008: 2008
  • Top cầu thủ ghi bàn ở Arsenal: 2006–07, 2008–09, 2010–11
  • Cầu thủ mùa giải của Arsenal:2008-09
  • Cầu thủ Arsenal ghi bàn của mùa giải: Tháng 2 năm 2011 với Barcelona
  • Cầu thủ xuất sắc nhất Ngoại hạng Anh (do PFA và FWA): 2011-2012

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă

    Hugman, Barry J. biên tập (2005). The PFA Premier & Football League Players’ Records 1946–2005. Queen Anne Press. tr. 627. ISBN 1-85291-665-6.

  2. ^ “Robin Van Persie”. 11v11.com. AFS Enterprises. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2016.
  3. ^ FEYENOORD DRINK FROM CUP OF CHEER Lưu trữ 2008-12-24 tại Wayback Machine – feyenoord.com, ngày 2 tháng 6 năm 2003. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2008.
  4. ^ Feyenoord slap £5m price tag on Van Persie – The Telegraph, ngày 20 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2008.
  5. ^ Arsenal win the race to capture £3m Van Persie[link hỏng], Independent trực tuyến Edition, ngày 29 tháng bốn năm 2004. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2007.
  6. ^ BBC Sport, Arsenal 3-1 Man Utd, ngày 8 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007.
  7. ^ Man City 1-2 Arsenal, BBC Sport, ngày 27 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007.
  8. ^ Southampton 1-1 Arsenal, BBC Sport, ngày 26 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2008.
  9. ^ 4thegame Profile Lưu trữ 2009-02-11 tại Wayback Machine. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2008.
  10. ^ FA Cup: Arsenal 3-1 Plymouth – Match Report Arsenal.com, ngày 3 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2009.
  11. ^ Van Persie is the Player of the Season Arsenal.com, ngày 13 tháng 7 năm 2009. Retrived on ngày 13 tháng 7 năm 2009
  12. ^ “Van Persie signs new long”. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2012. Truy cập 15 tháng 2 năm 2015.
  13. ^ “Netherlands – Robin van Persie – Profile with news, career statistics and history”. Soccerway. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014.

link ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • website chính thức
  • Robin van Persie – Thành tích tranh tài FIFA
  • Robin van Persie tại WorldFootball.net
  • Robin van Persie, Voetbalstats.NL (tiếng Hà Lan)
  • Robin van Persie tại Soccerbase Sửa dữ liệu tại Wikidata
  • Bản mẫu:Wereld van Oranje
  • Bản mẫu:TFF player
Vị trí thể thao
Tiền nhiệm:
Cesc Fàbregas
Đội trưởng Arsenal
2011–2012
kế thừa:
Thomas Vermaelen
phần thưởng
Tiền nhiệm:
Robert Doornbos
Nam vận động viên Rotterdam của năm
2006
kế thừa:
Francisco Elson